August, 2013

now browsing by month

 

Vu lan nhớ mẹ

 

red_rose_45

Nhìn mẹ vật vã, tay chân run rẩy, khó nhọc hít từng hơi thở, cố gồng mình chống lại cái chết đang chiếm dần cơ thể, tôi kiềm lòng không được, lặng lẽ rút một ống thuốc trợ lực định tiêm thêm cho mẹ thì anh tôi nắm tay tôi cản lại, bảo:“Thôi đi em, em muốn mẹ sống với em hoài, em thì hạnh phúc vì có mẹ bên cạnh, còn mẹ, mình mẩy lở loét, đau đớn từng giây, từng phút, bệnh tật đã hành hạ mẹ hơn hai mươi mấy năm rồi. Đừng ích kỷ chỉ nghĩ đến hạnh phúc của mình mà quên nỗi thống khổ của mẹ, em hãy để mẹ ra đi cho nhẹ nhàng thân xác”.

Tôi buông ống tiêm, gục đầu vào tường khóc nức nở, có phải tôi quá ích kỷ nên cứ muốn mẹ sống hoài bên tôi không, đôi chân tôi như đổ sụp xuống khi nghe lời nói đó. Thôi thì đành phải ngừng tất cả thuốc men trong giờ phút này… Ôi, có cái đau nào hơn cái đau của người con phải bó tay nhìn người thương yêu nhất của mình vật vã như bị lột da, như bị xé từng miếng thịt… lúc đi vào cõi hư vô. Không khí im lặng, chết chóc bao trùm lấy căn nhà bấy lâu vẫn rộn ràng tiếng nói cười của mẹ con chúng tôi.

Có tiếng chó sủa ngoài cổng, người cháu gái đã xuất gia gọi mẹ tôi bằng cô ghé thăm. Thấy cảnh tượng đang diễn ra, cô ấy rất bình tĩnh, một mặt bảo chị tôi ngồi kế bên mẹ niệm Phật cho bà nghe, một mặt thắp hương lên bàn thờ Phật.

Sau khi thắp hương, khấn nguyện xong, cô đến bên giường mẹ tôi khai thị, nói những lời an ủi, phân tích cõi trần tạm bợ, khuyên mẹ tôi niệm Phật A Di Đà để theo Phật về Tây phương Cực lạc. Cô ấy lại soạn trong tay đãy lấy ra đưa cho tôi một băng cassette ghi lời tụng kinh tiếp dẫn, bảo tôi mở máy cho mẹ tôi nghe. Băng chạy được khoảng mười phút, trong tiếng tụng kinh đều đều, tôi thấy khuôn mặt mẹ giãn dần ra, hơi thở nhẹ nhàng trở lại, tay chân không còn run rẩy, co giật nữa. Tôi thầm nghĩ, quả là kỳ diệu, không có một loại thuốc nào có thể đem lại hiệu quả như thế. Có lẽ, khi nghe lời khai thị, mẹ tôi đã thấu hiểu lẽ vô thường, tử sanh, dứt được lòng sợ hãi nên mới trở lại trạng thái yên bình, chấp nhận số phận như vậy. Mẹ tôi mất vào trưa ngày rằm tháng Tư năm đó.

Từ việc giúp mẹ tôi ra đi trong an bình, tôi đã có cái nhìn khác đối với người cháu gái của mẹ tôi. Lúc trước, khi biết cô ấy xuất gia về một thiền viện ở miền Đông tu tập, bỏ lại một bà nội tuổi đã ngoài bảy mươi và đứa em gái còn nhỏ dại, tôi đã phê phán kịch liệt sự ra đi đó, tôi bảo cô ấy thiếu trách nhiệm, không thương yêu kẻ đã cưu mang mình trong hoàn cảnh côi cút. Bây giờ tôi mới thấy được giá trị của người xuất gia, giúp thân nhân giải thoát khổ đau, vượt qua luân hồi sinh tử là hình thức báo hiếu cao cả, quý hơn những việc như gần gũi, lo thuốc thang, cơm áo gấp nhiều lần…  Và cũng từ việc đó, tôi bắt đầu có niềm tin và đến với Phật pháp.

Sau đám tang, do bận bịu xây mộ, cúng các tuần thất cho mẹ và việc các anh chị tới lui thường xuyên, tôi không thấy trống vắng lắm nhưng khi tất cả mọi việc đã xong xuôi, các anh chị ai về nhà nấy tôi mới bắt đầu thấm thía về sự ra đi của mẹ. Kia chiếc xe lăn đã gắn bó với mẹ bao nhiêu năm trời, đó chiếc giường mẹ ngủ mà hàng đêm tôi vẫn thường đến thăm hỏi, đàn hát cho mẹ nghe, đây chiếc ghế mẹ tôi đã ngồi may quần áo cho khách kiếm từng đồng bạc để lo cho chúng tôi ăn học… Đâu đâu cũng nhắc tôi nhớ đến mẹ.

Đêm ngủ, tôi cứ mong là tôi đang sống trong cơn ác mộng, khi tỉnh dậy tôi vẫn còn có mẹ, nhưng tỉnh rồi biết mình thật sự đã vĩnh viễn mất người, hai dòng nước mắt cứ tuôn trào vì nỗi đau xót cùng cực. Rất nhiều lần tôi gào to gọi mẹ đến rát cổ trong giấc mơ, giật mình dậy tôi vẫn muốn hét thêm để chối bỏ một thực tế phũ phàng. Ôi, có nỗi đau nào bằng nỗi đau mất mẹ!

Đêm rằm tháng Bảy năm sau, tôi ở nhà một mình, vợ và đứa con gái vừa tròn tám tuổi của tôi đi dự lễ Vu lan tổ chức ở chùa gần nhà. Sau thời tụng kinh Vu lan – Báo hiếu, tôi nằm trên võng, hai hàng nước mắt tuôn rơi vì nhớ mẹ. Nhớ những nhọc nhằn của mẹ tôi phải trải qua, nhớ những kỷ niệm buồn vui trong những ngày được sống gần mẹ…

Cuộc đời mẹ tôi có thể nói là một chuỗi dài những nhọc nhằn lo toan cho chồng con. Thuở ấy, ngoại tôi gả mẹ cho ba tôi với hy vọng cuộc đời con gái mình được sống trong cảnh no ấm vì cha tôi lúc đó là người có của ăn của để do ông bà truyền lại. Đâu ngờ, do thời cuộc loạn lạc, nhà bị giặc Pháp đốt nhiều lần, đất điền tứ tán, cả gia đình lâm vào cảnh thiếu trước hụt sau.

Do ở trong vùng chiến sự nên cha tôi gởi người chị lớn lên tỉnh lỵ, ăn nhờ ở đậu, làm việc nhà cho một người bà con giàu có để được học hành hầu có một cái nghề để mưu sinh, hai người anh lớn của tôi cũng được đưa lên Sài Gòn làm thuê kiếm sống, tránh giặc giã ở quê nhà. Thế là còn sáu chị em chúng tôi cha giao phó cho mẹ quán xuyến. Đất điền chỉ còn có ba công vườn với mấy chục gốc dừa mà phải lo một bầy con đang tuổi ăn, tuổi lớn, mẹ tôi phải làm quần quật, buông chuyện này, bắt chuyện kia để kiếm tiền nuôi con.

Thân đàn bà một mình phải một nắng hai sương, không nề khó nhọc, không kể tánh mạng chỉ mong một điều cho con mình lớn lên. Ngoài nghề may vá, mẹ tôi còn gói bánh ít đem ra chợ bán, mua lại dừa của các chủ vườn lân cận đem về bổ, phơi khô bán kiếm đồng lời. Cứ như thế, hết chuyện này đến chuyện khác, mẹ tôi làm việc quần quật để có cái ăn, cái mặc cho lũ con.

Đang miên man suy nghĩ, nhớ những kỷ niệm lúc sống cùng bên mẹ, tôi chợt thấy một con bướm đêm vụt bay qua cửa sổ vào nhà, sau một hồi bay vòng quanh phòng khách, con bướm bỗng bay đến đậu vào lư hương trên bàn thờ mẹ tôi. Nhìn cảnh đó, tôi chợt nhớ thời tôi còn thơ ấu, mẹ hay kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích, có chuyện hồn người chết hay mượn cánh bướm trở về thăm thân nhân…

Lúc ấy, tôi bỗng ngồi dậy, đưa tay ra như một kẻ mộng du, buột miệng nói: Có phải mẹ, mẹ hãy đậu vào tay con! Kỳ lạ thay, con bướm đang đậu ở lư hương bỗng vỗ cánh bay vòng quanh nhà rồi đột ngột bay đến đậu vào bàn tay đang xòe ra của tôi. Lúc đó, tôi có cảm giác như có một luồng điện chạy rần qua tay. Phải chăng đó là thần thức của mẹ tôi đang mượn cánh bướm này để về thăm đứa con trai đang đau buồn nhớ người trong đêm Vu lan trầm mặc?

Nhưng bản năng của người đàn ông, lý trí của người làm công tác khoa học, tôi không tin vào điều đó, tôi vẫy tay cho con bướm bay đi, rồi lại nói: Nếu phải mẹ, hãy trở lại với con! Con bướm đang bay vòng quanh phòng khách đột ngột quay trở lại đậu vào bàn tay tôi lần nữa. Toàn thân tôi như sụp xuống, nước mắt chảy ràn rụa, tôi đưa tay thật gần mắt để nhìn con bướm, đôi mắt nó lóng lánh phản chiếu ánh đèn như nhìn tôi muốn nói điều gì đó rồi đột ngột vỗ cánh bay lên lượn một vòng rồi trở lại đậu trên lư hương ở bàn thờ của mẹ tôi.

Đang bối rối, nửa tin đó là hương hồn của mẹ mượn cánh bướm về thăm con, nửa nghĩ chỉ là sự tình cờ trùng hợp thì vợ con tôi đi chùa về tới. Con tôi liến thoắng chạy vào, khoe với tôi rằng trong lễ cài bông hồng ở chùa nó được cài bông hồng đỏ. Nó lại bảo, tôi và mẹ nó chỉ được bông hồng trắng mà thôi vì ông bà nội, ngoại đã mất hết rồi. Xong nó lấy chiếc bông hồng trắng mang từ chùa về dán lên ngực áo tôi. Nó lại kể lúc hát bài Bông hồng cài áo có nhiều người lớn khóc lắm, chắc họ nhớ cha mẹ của họ, nó thì thào nói…. Tôi ôm con vào lòng, chua xót nghĩ thầm, rồi một ngày nào đó con cũng như ba mẹ, con cũng phải mang trên ngực một bông hồng trắng bởi đó là quy luật tử sanh của kiếp người.

Khi cả nhà đi ngủ, tôi đến bên bàn thờ mẹ, thắp một nén hương, khấn: “Mẹ ơi, bấy lâu được gần gũi chăm sóc mẹ, con hạnh phúc vô cùng nhưng nay mẹ ra đi khiến lòng con đau đớn quá bởi chữ hiếu làm sao trả cho hết trong chừng năm tháng đó. Nếu con có thể cõng mẹ giẫm qua bao chông gai trên trái đất này, máu chân con dù có chảy tràn như sông như suối cũng không thể trả hết những nghĩa ân mà mẹ đã vì chúng con lo toan cực nhọc cả đời. Nay âm dương cách trở, không thể lo miếng cơm, ly nước, quạt nồng, ấp lạnh cho mẹ nữa, bây giờ con chỉ còn cách theo lời Phật dạy, ăn chay, niệm Phật, tụng kinh, thực hành thiện nghiệp cầu phước báo mà hồi hướng cho mẹ, mong mẹ được siêu thoát, sanh về cõi Tịnh độ an bình”.

Lúc tôi khấn nguyện, con bướm đêm vẫn lặng lẽ đeo trên cạnh lư hương, không biết nó có nghe lời thì thầm của tôi không mà đôi cánh khẽ rung rung… Chợt nó tung cánh bay lên cao, lượn một vòng rồi bay ra cửa sổ đang mở, biến mất dạng. Tôi đến bên khung cửa sổ nhìn ra ngoài, đêm nay trăng sáng vằng vặc, chợt  nghe có tiếng ai trầm buồn hát bài Bông hồng cài áo: “Một bông hồng cho những ai đang còn mẹ… Để lòng mình vui sướng hơn…”, tim tôi lại nhói đau.

Hương Đức

Đạo hiếu Đạo Phật & Ca Dao VN

Đức Phật hay Đạo Phật tự ngàn xưa không những giới thiệu cho chúng ta có nhận thức được sự KHỔ và con đường tu tập để đưa đến chấm dứt mọi khổ đau ngay trong hiện tại, mà còn giúp cho chúng ta có một tầm nhìn trong sáng để trang bị hoàn thiện về đạo lý “Nhân bản” của con người trên mọi sinh lộ của cuộc đời.
Tuy nhiên, Đạo Phật khi du nhập vào bất cứ một quốc độ nào, trước tiên là phương pháp chuyển hóa để thực hiện tinh thần hội nhập , lưu xuất trong cộng đồng, lại  cần phải tùy vào nền văn hóa giáo dục, những phong tục tập quán truyền thống đã được truyền tụng, tôn trọng, ca ngợi sẵn có của quốc độ ấy. Thế nhưng, cho dù có sự khác biệt thế nào đi nữa, thì lời dạy của Đức Phật cũng đã được khẳng định về mặt đạo lý hay luân lý của con người  từ muôn thuở xa xưa cho đến ngàn thuở xa sau, như :
                  “Tâm Hiếu là tâm Phật’
                   Hạnh Hiếu là hạnh Phật”
Tâm và Hạnh là hai nhân tố song hành bất tuyệt biểu thị một giá trị tồn tại bất biến trong mọi hình thức đạo lý của con người. Chúng ta thấy, sự minh chứng đạo lý nơi bản xứ trong truyện thơ dân gian “Quan Âm Diệu Thiện” và đã được dân chúng Việt Nam biết đến nhiều, như ;
                                          “Chân như Đạo Phật Nhiệm mầu
                                           Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân
                                            Hiếu là độ được song thân
                                            Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài…”
Qua lăng kính đạo đức của người Việt Nam đã có từ những thời đại ngàn xưa, sự chắt lọc ý thức truyền thừa không ngừng trong cộng đồng xã hội, đã tạo nên những đường nét thẫm mỹ bằng những ý niệm hành động giáo dục trong sáng lành mạnh được thấm nhuần vào trong mọi tầng lớp sinh hoạt đậm chất liệu đạo đức con người và vẫn luôn được thắp sáng, hiện hóa trong sự tươi mát, không những tự ngàn xưa, mà còn cho cả đến ngàn sau.
Do đó, để xây dựng cho bản thân một nhân cách đích thực, thì tinh chất của nhân cách ấy chính là lòng “Nhân”, những nỗi trắc ẩn trong đời sống được nói đến và được hành động một cách đúng đắn. Nhưng “Hiếu” lại chính là cội gốc của Nhân, là nền tảng đạo đức muôn đời trong trời đất.Theo quan điểm của Nho Giáo, thì Hiếu là gốc của Đức, là nguồn của Giáo, bước đầu của đạo Hiếu là phải giữ mình, vì thân thể tóc da của ta là từ nơi cha mẹ, nên không dám làm tổn thương, là nết đầu của Hiếu.Lập thân đem lại lợi mình, có danh phận ở đời, làm rạng rỡ cho cha mẹ, dòng họ,  là nết cuối của Hiếu “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, Hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, Hiếu chi chung dã” (Hiếu Kinh).
Thế nhưng, nếu đức tính Hiếu hay Nhân không được nuôi dưỡng để được lớn mạnh trong mỗi lúc, thì mọi hình thức trong cuộc sống sẽ bị biến dạng và sẽ làm nguy hại cho xã hội con người, nhất là ngay trong thời đại của chúng ta. Điều ấy, Đức Phật đã nói lên ngay từ buổi ban đầu, điều mà có năng lực ươm mầm cho đức Nhân và Hiếu, như :
“ Nầy Mahanama, dựa trên thiện nam tử có lòng Tin, các người trong gia đình được lớn lên về 5 phương diện; 1./  Lớn lên về lòng Tin, 2./ Lớn lên về Giới, 3./ Lớn lên về học hỏi ( các Thiện pháp), 4./ Lớn lên về Bố Thí, 5./ Lớn lên về Trí Tuệ. Dựa trên thiện nam tử có lòng Tin, các người trong gia đình được lớn lên vì 5 sự lớn lên nầy” (Kinh Tăng Chi, II).
Như vậy, qua 5 sự nuôi dưỡng ấy để được lớn lên, lớn mạnh, không phải chỉ để trong gia đình, mà là luôn thuận theo dòng chảy của thời gian, dẫu có bao biến động làm cồn lên nhịp sống.v.v.. Thì sự trải nghiệm qua bao dãi dầu, mỗi chặng đường đời. Khi ấy, con người vẫn tiếp nhận, tiêu hóa và tồn tại một giá trị bất tuyệt không thể thiếu được đó là Hiếu, nếu thiếu, thì không thể tròn nghĩa con người. Bởi vì, trong mỗi đời người ít nhiều đều có sự nếm trải, tiếp nhận hay từ chối.
 Những tiếp nhận nào mà trong đó có sự xúc cảm từ địa vị, lợi lạc từ tài sản, những lạc thú từ những tiểu tiết thường tình… thì sớm chiều rồi cũng sẽ tàn phai vô vị, lãng quên theo dòng biến động thay đổi bất tận của thời gian, nó sẽ trở thành những hoài niệm vô vọng mà thôi. Nhưng, đạo lý “Hiếu” luôn được thắp sáng, rực sáng tận sâu thẳm tâm hồn của con người, luôn soi rọi trên mọi nẻo đời và vô cùng theo với thời gian, thành một sức sống tươi mát thánh thiện. Sự sống ấy, luôn nói lên cách hành xử căn bản từ tinh chất “Nhân Bản”, đó là việc biết ơn và đền ơn.
Nói đến việc biết ơn và đền ơn, trước hết, với thái độ của người con và nhất là đối với người đệ tử Phật không gì khác hơn là thực hiện tỏ bày một niềm Hiếu Tâm, Hiếu Hạnh và Hiếu Kính, Hiếu Đạo đối với Tổ thầy, ông bà cha mẹ khi còn sanh tiền khi chúng ta còn có cơ hội chỉ đến với chúng ta một lần trong đời, như lời dạy của Đức Phật đã cảnh báo, đánh thức trong lòng cho mỗi người con, đó là vận may tối thượng đến với con cái:
                                 “ Phụng dưỡng cha và mẹ
                                   Là vận may tối thượng”
                                                                         (Kinh Tiểu Bộ I)
Cái vận may ấy, chúng ta có thể đánh mất bất cứ lúc nào trong cuộc đời vô thường và ngắn ngủi nầy. Chính vì lẽ đó, Đức Phật đã nhấn mạnh vào trọng điểm nhằm nhắc nhớ  người con phải thấy và biết về hai cái ơn sâu nặng ấy.
Với đạo lý Nho giáo, Đức Khổng Tử cũng đã khuyên nhắc chúng ta: “Cư tắc trí kỳ Kính, Dưỡng tắc trí kỳ Lạc, Bệnh tắc trí kỳ ưu, Tang tắc trí kỳ Ai, Tế tắc trí kỳ Nghiêm” (Ở thì phải hết lòng cung kính, Phụng dưỡng thì phải vui vẻ, đau yếu thì phải biết lo toan, qua đời thì phải thương tiếc, cúng tế thì phải biết trang nghiêm.) qua những điều ấy, cũng đã thể hiện tương quan đến sự sống và sự chết từ cái đẹp suối nguồn của đạo lý con người muôn thuở.
Chúng ta cùng nghe lại, cùng suy nghiệm những lời quí giá bao đời của cha ông chúng ta trong kho tàng cadao dân ca Việt Nam, như:
                                       “Ru hời, ru hỡi, ru hơi
                                         Công cha như núi ngất trời
                                         Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông
                                         Núi cao, biển rộng mênh mông
                                         Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi”.
Con người khi sanh ra trong đời, luôn có sự đan xen nhiều mối quan hệ chuyền níu trong xã hội, thế nhưng trong đó, mối quan hệ gần gũi thiêng liêng mật thiết nhất, đó là cha và mẹ, ân nghĩa sâu nặng nhất cũng bắt đầu từ cha và mẹ. Và cũng chính nhờ vào mối quan hệ thiêng liêng đó, nên có sự nuôi dưỡng mầm yêu thương ấy của những bậc cha mẹ cũng như những nhà lảnh đạo về mặt đạo đức, văn hóa giáo dục một cách tích cực trong sáng đúng nghĩa, thì đây là một cơ may đem lại cho đời sống từ gia đình đến ngoài xã hội trong một đất nước hằng có được một nếp nghĩ, sinh hoạt lành mạnh, nhiều sự bình yên. Nếu trái lại, thì sẽ phát sinh những bất an, đồng thời làm mất đi một trật tự đáng tiếc.
Qua một cái nhìn khác về đạo lý của “Hiếu”, Đức Phật đã giúp cho chúng ta phân định được giữa cái “Thiện và Ác” như sau : “Nầy các tỳ kheo, đối với những người độc ác, đây là những đặc tánh của họ được biết đến, tức là không biết ơn và không đền ơn. Còn bậc chân nhân, nầy các tỳ kheo, là biết ơn, là đền ơn. Đối với những thiện nhân, đây là những đặc tánh của họ được biết đến, tức là biết ơn và đền ơn…” (Kinh Tăng Chi I, 118).
Chúng ta thấy, Đức Phật nhấn mạnh ở chổ “… Đây là những đặc tánh của họ được biết đến…”. Thế nên, sự sai khác chênh lệch nhau đã được bắt đầu từ một phát xuất do ý niệm đưa đến hành động, Và cũng từ hành động đã biểu thị cho thế giới tâm tư của vị ấy có cao thượng hay thấp kém. Đến đây, chúng ta lại nghe thêm lời dạy khác của Đức Phật giữa cái ác và cái thiện như thế nào !
                                “Điều thiện tối cao
                                  Không gì hơn bằng Hiếu
                                  Điều ác cực ác
                                  Không gì hơn bất hiếu”
                                                                        (Kinh Nhẫn Nhục).
Nếu như theo đà xu hướng và phát triển của xã hội hôm nay, thì cái ác (bất hiếu), nói một cách khác là không biết ơn và đền ơn cũng đã được báo động một cách đáng lo ngại về mặt đạo đức giáo dục, trong khi mức sống không phải dễ dàng đem lại ổn định phần đông cho số người trong cộng đồng. Mặc dù trên hình thức nào đó, chúng ta thấy những phương tiện phục vụ ngày càng nâng cao theo mỗi lúc. Đồng thời, tạo thêm nhiều nhu cầu bám víu, kích thích từ những cảm thọ lạc thú thấp kém hay bởi lắm bề bộn để được sinh tồn trong cuộc sống mà lãng quên hay bỏ qua đi .v.v… Điều nầy, đối với những nhà lảnh đạo tinh thầntôn giáo cũng như các vị có chức năng trong giới đào tạo và giáo dục của một tổ chức quốc gia, tưởng cũng cần phải theo dõi, quan tâm đến sâu sắc và có một định hướng hợp lý. Tất nhiên, cũng không thể không nói đến trách nhiệm trong việc chăm sóc, quản lý từ phía cha mẹ. mà trước đây trong kho tàng tục ngữ đã nói đến :
                                 “ Cha mẹ ngoảnh đi, thì con dại
                                  Cha mẹ ngoảnh lại, thì con khôn”  (tục ngữ VN).
Mặc khác, để nâng lên tính cách tuyệt vời của Đức Nhân, Đức Hiếu qua giáo lý của Phật, lời dạy đã vượt ra ngoài phạm trù ước định giữa cha mẹ và con cái, giữa bản thân và quyến thuộc, nhằm mở rộng sự toàn mãn chân thiện của một tâm hồn, đó là :
                 “Giới danh vi Hiếu” (Giới là Hiếu).
·        Giới Kinh
Như vậy, Hiếu là cội nguồn của Giới, nếu người không hiếu thảo, thì người ấy không thể giữ giới trọn vẹn và do vậy, không thể tạo tác được các pháp lành (thiện pháp). Sự thâm thúy sâu kín trên đã minh họa cho một hiện trạng xã hội hưng thịnh một nếp sống lành mạnh (Chân-Thiện-Mỹ) hay một hình ảnh suy yếu, nguy hại từ sự lo âu, sợ hải của hổn loạn. Bởi vì, Hiếu mà ta thấy được là do “Hạnh” mà ra, còn Hiếu mà ta không thể thấy được bằng mắt, đó là “Lý của Hiếu”. Vì rằng; nhờ “Lý” (ý thức chơn chánh) mà “Giới” phát sinh, nhờ “Hạnh” (hành động đúng pháp) nên “Giới” mới hiển lộ. Nếu như người chỉ có “Hạnh” mà không nương theo “Lý” thì chỉ biết hiếu thảo với cha mẹ mà không có mở rộng tình thương yêu với mọi người, khi ấy chúng ta có thể sanh tâm bất thiện…
Do đó, ngoài tinh thần báo đáp ân nghĩa sinh thành của con cái, đã được nhắc nhớ qua lời ca dao, như:
                                 “Nghĩa cha sanh cùng công mẹ dưỡng
                                  Thì ngày đêm tư tưởng chớ khuây
                                   Hai công đức ấy nặng thay
                                  Xem bằng bể rộng, xem bằng trời cao”
                                                                                                Ca dao.
Chúng ta còn phải hiểu thêm về lời dạy của Đức Phật, không phải chỉ biết ơn và đền ơn phụng dưỡng thôi là đủ, mà tự thân có thực hiện tu tập những giới pháp của bậc Thánh để được thuần tịnh tâm tư, còn giúp cho cha mẹ biết hướng tâm về Tam Bảo, các thiện pháp, biết bố thí, có chánh kiến… để trở thành bậc thiện trí trong giáo pháp của bậc Thánh và trong đời sống hiện tại.
Giá trị đích thực của Hiếu không phải qua sự lập đi lập lại một định nghĩa nào đó, mà là ngay trong mỗi hành động ứng xử hằng ngày luôn phát tiết một cử chỉ chân thật và tôn kính, trân trọng, không dấu lại bên trong những điều bất mãn, nhọc nhằn hay một ý niệm cố gắng nào đó. nghĩa siêu vượt về Hiếu, nó không phải là một qui định, một nghĩa vụ, một bổn phận bắt buộc, mà là phải từ nguồn mạch yêu thương chân thật từ tinh chất đạo đức giáo dục mà các bậc Thánh đã thực hiện và đề ra.
Tóm lại, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã là một gương sáng của đức Hiếu Hạnh, đã thể hiện qua nhiều đời kiếp và cho đến đời sống cuối cùng nơi cõi đời hiện tại, khi chấm dứt con đường sinh tử, công hạnh thiêng liêng đối với cha mẹ từ muôn đời nay đã viên mãn.
Đồng thời, từ khi Đạo Phật có mặt trong đời và theo suốt dòng thời gian trên 25 thế kỷ đi qua là một nhân chứng của đạo lý tình thương, biết ơn, nhớ ơn và đền ơn. Và cũng kể từ khi giáo lý bậc giác ngộ hội nhập cùng với đạo lý dân tộc Việt Nam đến nay, đã trở thành một nếp sống mang tính đặc thù và hòa quyện suốt chiều dài lịch sử của quê hương Việt và cùng với kho tàng ca dao, dân ca dân gian thấm đậm những sắc màu tươi mát, bình an mầu nhiệm từ bao thế kỷ xa xôi, hiện tại và cho đến vô tận mai sau.
   Long Xuyên, trung tuần tháng 8.2013.

Ý nghĩa Vu Lan

Thích Thanh Từ

VU LAN BỒN

Phật tử khi nghĩ tới công ơn cao siêu vời vợi của cha mẹ, chúng ta phải hết lòng hết dạ đền đáp. Nếu không đền đáp được nhiều ít ra cũng năm, mười phần chớ không thể nào chúng ta bỏ mặc cha mẹ ra sao thì ra, đó là không biết đạo nghĩa. 

Ngày lễ Vu lan nói theo nhà đạo là ngày Tự tứ của chúng Tăng. Chữ Tự tứ nói đủ là Tự tứ thỉnh, nghĩa là thỉnh cầu những bậc trưởng thượng chỉ dạy mọi lỗi lầm cho mình. Những lỗi lầm đó hoặc là các ngài thấy, các ngài nghe cho đến chưa thấy, chưa nghe mà chỉ nghi thôi cũng cứ chỉ. Nếu mình thấy đó là lỗi thật thì mình thành tâm sám hối chớ không dám cãi, không dám bỏ qua. Bởi vậy nên ngày này chư Phật rất vui vì thấy chúng đệ tử có tâm hồn phục thiện, biết cải hối những lỗi lầm. Do đó cũng gọi là ngày Phật hoan hỷ. Đó là ý nghĩa thứ nhứt.

Ý nghĩa thứ hai, ngày này là ngày gợi lại lòng hiếu thảo của người con Phật. Bởi vì theo tinh thần kinh Vu Lan, ngày rằm tháng Bảy chính là ngày Tôn giả Mục Kiền Liên tìm thấy mẹ đang sinh trong kiếp ngạ quỷ khổ đau, mà tự bản thân Ngài cứu không được. Ngài mới nhờ Phật chỉ dạy phương pháp cứu độ mẹ. Nhân đó Phật dạy muốn cứu mẹ thoát khỏi tai ách, phải nên cúng dường chư Tăng, Ni. Nhờ lực gia trì của Tăng, Ni phụ giúp cho mẹ Ngài chuyển đổi tâm ác, thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Với lòng thành kính của người con thảo, Ngài đã thực hiện đúng những lời Phật dạy và mẹ Ngài cũng thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Chính nhờ lòng thành đó mà đến rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ của chúng Tăng, Phật dạy chúng ta nên cúng dường chư Tăng, nhờ chư Tăng phụ lực mà thân mẫu trong nhiều đời được siêu thăng. Nên ngày này còn gọi là ngày Báo hiếu.

Trong mùa này, mỗi Phật tử chúng ta nhớ lại công ơn cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng cực khổ, cho nên chúng ta nhờ sức chú nguyện của chư Tăng, Ni, nếu cha mẹ có sa vào đường khổ thì nhờ phúc đức này được thoát khỏi. Còn nếu cha mẹ không đi trong đường khổ thì nhờ phúc đức này mà được tăng trưởng thiện căn. Nếu cha mẹ hiện tiền cũng nhờ đó mà tăng trưởng tuổi thọ và phát tâm Bồ đề. Đó là ý nghĩa báo hiếu của người con Phật. Bởi vậy ngày Vu lan còn có tên là ngày xá tội vong nhân. Đó là ngày tha thứ mọi lỗi lầm, ngày mà mọi người đều ăn năn, xin cải đổi sám hối, mong các vị lớn tha thứ cho. Nhờ ý nghĩa tha thứ những lỗi lầm đó nên cũng chính ngày này chư Tăng, Ni thành tâm cầu nguyện cho các vong nhân được khỏi những kiếp khổ đau.

Tôi đã kể sơ qua về ý nghĩa của ngày lễ Vu lan rồi. Bây giờ đi sâu hơn về hạnh hiếu của người con Phật. Nhiều khi quý Phật tử thắc mắc, Phật dạy làm con phải hiếu thảo với cha mẹ nhưng quý thầy, quý cô lại bỏ cha bỏ mẹ đi tu, như vậy là bất hiếu rồi, làm sao dạy Phật tử có hiếu được? Không phải vậy. Mới nhìn chúng ta thấy như là bất hiếu nhưng trái lại là chí hiếu. Tại sao? Vì đi tu không có nghĩa là tìm nơi an nhàn để thụ hưởng yên ổn cho riêng mình, mà vì thương cha thương mẹ, thương chúng sinh; muốn tu làm sao tự bản thân mình giải được những phiền não khổ đau, rồi sau đó giúp cha mẹ và hướng dẫn mọi người hướng về con đường đạo đức, bỏ đi những điều tội lỗi. Đó là đền đáp công ơn cha mẹ.

Theo thế gian, hiếu thảo với cha mẹ là lo đủ mọi thứ, nào là cơm ăn, áo mặc, giường chõng, thuốc men… nhưng có người nào lo mà cha mẹ khỏi chết không? Dù nuôi kỹ cách mấy rồi chết cũng phải chết. Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta không chỉ có mặt ở một đời này mà còn có mặt ở vô số kiếp về trước và sau nữa, nên mất thân này sẽ mang thân khác. Do đó nếu ngay thân này không biết làm lành thì e rằng đời sau sẽ đọa những đường khổ. Bởi vậy người tu phải làm sao thức tỉnh cha mẹ hướng về con đường lành, để cho cha mẹ có mất đi thì sẽ được hạnh phúc, an vui trong những đời sau. Tôi thí dụ như cha mẹ năm sáu mươi tuổi, có con mười mấy tuổi phát tâm đi tu, ban đầu cha mẹ buồn trách nhưng sau đó lại tự xấu hổ. Vì nghĩ rằng con mình còn nhỏ nhưng không ham ăn, không ham danh lợi còn mình già rồi mà vẫn chưa thức tỉnh.

Nghĩ vậy, tự nhiên mình cũng bắt chước, lần lần bớt ham ăn, lại tập ăn chay, bớt ham danh lợi, nhờ vậy mình tu từ từ. Rõ ràng, lúc đầu thì thấy con như dở nhưng càng về sau lại thấy càng hay. Cho nên phần nhiều những gia đình có con đi tu thì dần dần cha mẹ và gia quyến cũng bắt chước tu theo. Đó là tinh thần hiếu đễ của người xuất gia. Người ở thế gian cứ nghĩ nuôi cha mẹ được ấm no, đầy đủ là có hiếu nhưng quên rằng tuổi thọ cha mẹ có giới hạn, tới mức độ nào rồi cũng phải đi. Cho nên làm sao vừa lo cho hiện tại được ấm no mà nghĩ tới tương lai, sau khi cha mẹ bỏ thân này được thân sau cũng phải sáng sủa, tốt đẹp hơn nhiều. 

Đó mới gọi là người biết lo chân chính, lâu dài. Như vậy tinh thần của người tu không phải là bỏ cha mẹ mà là thương cha mẹ. Vì muốn hướng cha mẹ về đường lành, hướng thân quyến phát tâm Bồ đề nên mới đi tu. Với truyền thống người Việt Nam ta, hiếu thảo là một điều rất thiêng liêng, rất cao cả. Ai biết hiếu thảo với cha mẹ thì mới có thể là một con người tốt ở trong xã hội. Cho nên hiếu thảo là một nền tảng đạo đức rất cần thiết. Thuở xưa cha ông chúng ta cũng từng răn dạy những điều đó. Tôi dẫn một ít đoạn trong ca dao, tục ngữ để quý vị thấy hiếu thảo là một điều hết sức quan trọng:

                                                Nuôi con chẳng quản chi thân
                  Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn
                  Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn
                  Lên non xắn đá xây lăng phụng thờ.

Qua bốn câu này, quý vị thấy người bình dân Việt Nam đối với công ơn cha mẹ rất là thắm thiết. “Nuôi con chẳng quản chi thân”, khi cha mẹ nuôi con thì không nghĩ gì tới mình hết, miễn con khỏe mạnh là cha mẹ vui. Con bệnh hoặc bị phiền não hay tật nguyền gì đó thì cha mẹ buồn khổ. Cha mẹ muốn hy sinh thân mình cho con được khỏe mạnh. Dù cực khổ, khó khăn đến mấy cũng vẫn không nề, không chán. Câu sau “Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”, thật thấm làm sao! Những năm trước bốn mươi lăm, ở Việt Nam mình kinh tế rất là chật vật, quý vị nào có ở miền quê mới thấy cảnh cha mẹ nghèo ở nhà lá rách, giường chiếu chỉ có một đôi thôi. Con nhỏ chừng một, hai tuổi ban đêm có bệnh hay đái dầm. Khi đái dầm thì ướt, ướt mà không có chiếu thay nên mẹ nằm bên ướt, để con chỗ khô ráo cho nó ngủ ngon.

Cái tình của người mẹ quê như vậy, người không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ làm sao cho con ngủ ngon giấc, con được khỏe mạnh, con chóng lớn lên. Người mẹ xưa đã sống trong cảnh cơ cực đó nên mới nói lên được câu này “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”. Người mẹ lúc nào cũng trải thân mình cho con cái, quên cả mọi khổ sở, mọi đau đớn, miễn làm sao cho con ăn ngon ngủ được, đó là yên lòng mẹ. Cha mẹ đối với con đã không kể thân, không nghĩ tới phần của mình thì làm con cái phải làm sao? Chúng ta là con, muốn đền được ơn đó thì phải nhớ câu “biết lấy chi đền nghĩa khó khăn, lên non xắn đá xây lăng phụng thờ”. Khi cha mẹ chết rồi mình mới lớn khôn, nhớ ơn cha mẹ không biết làm sao cho nên cạy đá, xây lăng thờ cha phụng mẹ, đó là nói theo người thế gian. Còn nói theo tinh thần đạo Phật thì nếu cha mẹ chết rồi, chúng ta ráng làm điều lành, điều phước để hồi hướng cho cha mẹ. Nếu cha mẹ còn sinh tiền, chúng ta lo lắng cho cha mẹ được ấm no, được hạnh phúc, biết quy hướng về Tam bảo, đó là bổn phận của người con hiếu.

Lại một bài nữa:
                  Công cha nghĩa mẹ cao vời
                  Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta
                  Nên người, ta phải xót xa
                  Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.

Nghĩa là công ơn cha mẹ rất cao vời, không có gì sánh được. Cha mẹ có khi nào nghĩ rằng tôi nuôi nó chừng ba năm, bảy năm rồi bỏ nó muốn ra sao thì ra đâu. Từ thuở còn bé, nằm nôi cho tới khi lớn khôn, có đôi bạn, có con, vẫn cứ lo. Hết con tới cháu, cho tới đầu bạc phơ, rồi tới ngày tắt thở mới thôi. Như vậy để thấy thâm tình cha mẹ đối với con không biết bao nhiêu mà kể. Như vậy bổn phận làm con ta phải làm sao? “Nên người, ta phải xót xa”, khi lớn khôn rồi nghĩ đến công ơn cha mẹ như trời cao, biển rộng. Ân nghĩa đó nặng nề sâu thẳm chớ không phải là thường. Cho nên người Phật tử khi nghĩ tới công ơn cao siêu vời vợi của cha mẹ, chúng ta phải hết lòng hết dạ đền đáp. Nếu không đền đáp được nhiều ít ra cũng năm, mười phần chớ không thể nào chúng ta bỏ mặc cha mẹ ra sao thì ra, đó là không biết đạo nghĩa. Trong đạo Phật thường nhắc nhở, trong năm tội ngũ nghịch thì tội bất hiếu với cha mẹ là đầu.

Tôi dẫn một câu chuyện hiếu thảo hơi lạ để quý Phật tử thấy rõ ý nghĩa công ơn cha mẹ như đã nêu. Ngày xưa có anh chàng nọ vừa dở, vừa không gặp thời, làm ăn đâu thất bại đó. Gia đình một vợ năm bảy con, nuôi không xuể, thiếu hụt đủ thứ. Cạnh bên có người láng giềng rất hào hiệp, mỗi khi anh túng quẫn anh qua nhà ấy vay mượn, mượn rồi không có tiền trả. Thời gian sau túng quẫn nữa anh lại qua nữa, nhưng rồi cũng không có tiền trả. Tuy nhiên người hảo tâm kia vẫn cứ cho mượn hoài, đến khi anh nhà nghèo già và chết. Khi ấy anh bị lôi xuống Diêm vương, ngục tốt tra khảo sổ sách thì thấy anh nợ người láng giềng quá nhiều, Diêm vương liền ra lệnh: “Bây giờ chú mầy phải sinh trở lại làm trâu kéo cày để đền trả nợ trước”. Anh chàng đó nói:

- Không được, cho làm trâu không đủ trả, xin cho tôi làm cha nó mới đủ trả.

Diêm vương ngạc nhiên quá:

- Tại sao đã thiếu nợ người ta mà còn đòi làm cha người ta nữa?

Anh chàng liền giải thích:

- Nếu làm trâu thì sống bảy tám tuổi, cao lắm mười hai tuổi là chết. Mười hai năm kéo cày trả nợ không đủ. Chỉ có làm cha là tôi lo cho đến hết đời, nuôi nấng họ đến hết đời. Hết đời tôi rồi, còn dư bao nhiêu tiền của để lại cho họ luôn. Nếu tôi còn sống dai thì nó có cháu, có chắt tôi cũng nuôi tất. Như vậy mới khả dĩ trả hết bởi nợ to quá.

Như vậy quý vị thấy làm cha còn nặng hơn làm trâu nữa. Vì làm trâu chỉ giới hạn bảy tám năm hay chín mười năm thôi, còn làm cha là suốt một đời, trả hoài cho đến đời cháu nữa. Và có ai chửi mắng gì mình cũng nhận chịu luôn. Nhận hết mọi việc như vậy mới đủ trả. Câu chuyện có tính cách khôi hài, nhưng qua đó chúng ta thấy công ơn của cha mẹ không thể kể hết, phải không? Cho nên người ta bảo kiếp làm cha mẹ đối với con còn hơn kiếp trâu ngựa nữa chớ không phải là vừa. Vậy mà nhiều khi con không nhớ, không biết, còn phụ rẫy, bạc bẽo lại với cha mẹ nữa. Thật là tội lỗi biết bao!

Đã không biết ơn cha mẹ thì ơn xã hội chắc càng không biết. Nếu người không biết ơn nghĩa gì hết thì con người đó gọi là con người gì? Con người vô ơn bạc nghĩa! Đã là người vô ơn bạc nghĩa thì còn dùng được chỗ nào? Bởi vậy muốn thành một người tốt đối với xã hội, trước hết chúng ta phải là người con hiếu thảo với cha mẹ. Do biết thương cha mẹ nên mình không đánh lộn, cãi lộn, hút thuốc, uống rượu, làm những việc hư thân khiến cha mẹ buồn. Nhờ thế mà mình thành một người tốt trong xã hội. Thế nên hiếu thảo là bước đầu để xây dựng gia đình tốt đẹp, xã hội văn minh, quốc gia cường thịnh.

Thư Mời Đại Lễ Vu Lan

VulanBanner2013 2

 Thư Mi

 Đi L Vu Lan

 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

 

Kính gởi quí Đồng hương và Phật tử,

Phật dạy: ” Tâm hiếu là tâm Phật

Hạnh hiếu là hạnh Phật.”

Để noi gương Đức Mục Kiền Liên và tỏ lòng nhớ ơn báo hiếu lên hai đấng Song Thân. Mùa Vu Lan Thắng Hội tại Thiền Viện Chánh Pháp được cử hành lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật ngày 01 tháng 9 năm 2012( nhằm ngày 26 tháng 7 năm Quý Tỵ).

Thay mặt Thiền Viện, kính mời quí Đồng hương và Phật tử sắp xếp thời gian quý báo về tham dự buổi lễ và đồng cầu nguyện cho gia đình được an vui, thế giới  luôn hòa bình.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.

Trụ Trì Thiền Viện Chánh Pháp

Tỳ Kheo Thích Thông Triết

 

Chương Trình

 Đi L Vu Lan

 

- 9:45 AM     Phật tử vân tập

- 10:00 AM   Chư Tôn Đức quang lâm Chánh Điện

  • Giới thiệu thành phần tham dự
  • Lời chào mừng Đại Lễ Vu Lan
  • Cảm tưỡng của các em về công ơn Cha Mẹ
  • Lời huấn từ của Chư Tôn Đức
  • Khóa lễ Vu Lan
  • Lễ Cài hoa hồng
  • Lời cảm tạ

- 12:00 PM  Lễ Cúng Dường Trai Tăng

- 1:00 PM Cúng tiến chư Hương Linh

- 2:00 PM   Hoàn mãn