Archives

now browsing by author

 

HÌNH ĐẠI LỄ VU LAN BÁO HIẾU – Phật lịch 2559 – Dương lịch 2015

DSC_4776 DSC_4778 DSC_4782 DSC_4783 DSC_4785 DSC_4786 DSC_4787 DSC_4788 DSC_4789 DSC_4790 DSC_4791 DSC_4792 DSC_4793 DSC_4794 DSC_4795 DSC_4796 DSC_4797 DSC_4798 DSC_4800 DSC_4801 DSC_4802 DSC_4803 DSC_4811 DSC_4812 DSC_4815 DSC_4816 DSC_4817 DSC_4820 DSC_4821 DSC_4822 DSC_4823 DSC_4826 DSC_4827 DSC_4829 DSC_4830 DSC_4831 DSC_4834 DSC_4836 DSC_4840 DSC_4842 DSC_4847 DSC_4849 DSC_4862 DSC_4866 DSC_4867 DSC_4869 DSC_4871 DSC_4875 DSC_4879 DSC_4885 DSC_4887 DSC_4889 DSC_4896 DSC_4900

Hinh Phat Dan

DSC_4721 DSC_4722 DSC_4723 DSC_4724 DSC_4725 DSC_4726 DSC_4727 DSC_4728 DSC_4729 DSC_4730 DSC_4731 DSC_4732 DSC_4733 DSC_4734 DSC_4735 DSC_4736 DSC_4737 DSC_4738 DSC_4739 DSC_4740 DSC_4741 DSC_4742 DSC_4743 DSC_4745 DSC_4748 DSC_4750 IMG_5364 IMG_5366 IMG_5370

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2639

 

Kính thưa Quý Phật tử và Đồng hương

Hằng năm đến ngày Phật Đản, tất cả những người con Phật khắp nơi trên thế giới, đều hân hoan chào đón mừng ngày Đản Sanh của dấng Từ Phụ Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đã tìm ra ánh sang giác ngộ và chỉ dạy con đường giải thoát cho chúng ta, qua Tam Tạng giáo điển. Ngài cũng đã từng tuyên bố: “ Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”

Để tri ân long đại bi của đấng cha lành trong ba cõi, Thiền Viện Chánh Pháp sẽ cử hành Đại Lễ Phật Đản và Lễ Tắm Phật vào ngày Chủ Nhật 7 tháng 6 năm 2015 (nhằm ngày 21 tháng 4 năm Ất Mùi). Kính mời Quý Phật tử và đồng hương hoan hỷ dành chút ít thời gian quý báu, cùng về tham dự đại lễ. Kính chúc Quý Phật tử và đồng hương  phước huệ luôn tăng trưởng. Mọi việc đều thành tựu như nguyện. Nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho thế giới hòa bình, muôn loại chúng sanh đều sống trong an lạc.

Sau đây là chương trình buổi lễ:

10:15 AM – 10:30 AM         Phật Tử Vân Tập

10:30 AM – 11:00 AM         Khóa Lễ Kính Mừng Phật Đản

11:00 AM – 11:15 AM          Lễ Tắm Phật

11:15 AM- 12:00 PM           Thuyết Pháp

12:00 PM – 1:00 PM            Thọ Trai

2:00 PM                              Hoàn Mãn

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

Tỳ Kheo Thích Thông Triết

Hình Đón Xuân Ất Mùi 2015

DSC_4552 DSC_4555 DSC_4567 DSC_4569 DSC_4572 DSC_4575 DSC_4574 DSC_4580 DSC_4582 DSC_4584 DSC_4586 DSC_4587 DSC_4590 DSC_4591 DSC_4595 DSC_4598 DSC_4606 DSC_4599 DSC_4600 DSC_4594 DSC_4592 DSC_4593 DSC_4607 DSC_4603 DSC_4604 DSC_4602 DSC_4612 DSC_4614 DSC_4617 DSC_4623 DSC_4625 DSC_4618 DSC_4583 DSC_4622 DSC_4640 DSC_4646 DSC_4632

ĐỨC DI-LẶC QUA HÌNH ẢNH VÀ Ý NGHĨA NGÀY VÍA CỦA NGÀI

ĐỨC DI-LẶC QUA HÌNH ẢNH VÀ Ý NGHĨA NGÀY VÍA CỦA NGÀI

Hòa Thượng Thích Thanh Từ

Trong chùa tất cả những hình thức thờ phụng cũng như mọi nghi lễ đều có ý nghĩa rõ ràng, nhưng vì lâu rồi chúng ta nặng về phần tín ngưỡng, nên không xét kỹ ý nghĩa. Vì vậy đi chùa rất lâu thờ Phật quá nhiều; mà tự mình không biết ông Phật đó là thế nào? Tại sao ngày đó mình phải lễ Ngài? Hôm nay nhân ngày đầu năm, đúng là ngày vía của đức Phật Di-lặc, và lúc này chúng ta lễ Phật gọi là lễ vía đức Di-lặc. Chúng ta phải biết ý nghĩa ngày vía của Ngài thì việc lễ của chúng ta mới có giá trị thật. Vì sợ quí Phật tử không hiểu lẽ đó, cũng như chư tăng trong chùa, nhiều khi không có thời giờ nghiên cứu rõ ràng, cho nên hôm nay sẵn đây tôi nói ý nghĩa về đức Phật Di-lặc để quí vị tìm hiểu, coi như lời chúc Tết đầu năm của tôi. Nói về đức Phật Di-lặc chắc rằng đại đa số quí vị đều nhớ đến hình tượng của một ông Phật ngồi phạch ngực, mập, bụng to và miệng cười toe toét. Có khi quí vị thấy bên cạnh Ngài có 6 đứa con nít, đứa thì móc lỗ tai, đứa thì móc miệng, đứa thì thọc lét v.v… Những hình tượng đó như là một trò đùa. Mình không biết tại sao lại có chuyện đùa ở trong chùa như vậy. Đó là ý nghĩa chúng ta cần phải biết. Nói đến đức Di-lặc chúng tôi phải khảo lịch sử từ Ấn Độ sang Trung Hoa để quí vị khỏi lầm lẫn. Nhiều tà thuyết bây giờ dựng đức Phật Di-lặc làm chỗ tiêu chuẩn để họ lôi cuốn Phật tử. Đức Phật Di-lặc là tên dịch của thuở xưa. Sau này có dịch ra nhiều tên khác nhưng vì chúng ta đã quen kêu là đức Phật Di-lặc. Chữ Di-lặc là phiên âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Từ Thị (Thị là họ, Từ là từ bi). Có thuyết nói rằng khi bà mẹ của Ngài mang thai Ngài, khởi lòng thương không nỡ giết hại chúng sanh và không ăn thịt cá được cho nên nói là “Từ”. Vì Ngài sanh nơi bà mẹ đó cho nên gọi là Từ Thị. Nhưng có thuyết lại nói khác hơn. Vì thuở xưa Ngài tu về từ bi tam-muội cho nên sau này có tên là Từ Thị. Nhưng tên Ngài là A-dật-đa cũng là tiếng Phạn dịch âm. Dịch theo chữ Tàu là Vô Nan Thắng (Vô là không, Nan là khó) tức là không có thể nào hơn được. Đối với Ngài về trí tuệ và hạnh tu ít người hơn được, nên có tên Vô Nan Thắng. Đó là nói về đức Phật theo thói quen của chúng ta. Nếu nói theo kinh thì gọi là Bồ-tát Di-lặc. Hồi đức Phật còn tại thế, Bồ-tát Di-lặc là một người có lịch sử sanh ở miền Nam Thiên Trúc, ở trong dòng Bà-la-môn. Sau gặp Phật, Ngài xuất gia, tu theo hạnh Bồ-tát. Đó là hình ảnh thật có lịch sử rõ ràng ở Nam Thiên Trúc.

Khảo nhiều kinh, trước hết tôi dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm có nói thế này: Đức Phật dạy rằng sau này ở cõi Ta-bà, tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng còn mười tuổi thì đức Phật Di-lặc ra đời. Khi nghiệp ác nhiều thì tuổi thọ theo đó mà giảm. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi, cũng như bây giờ tuổi thọ chúng ta coi là một trăm tuổi vậy, thì lúc đó thế giới sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải là người ta giết chết nhau, mà chính những lá cây cỏ cũng có thể biến thành gươm bén. Chúng ta bị chặt bị cắt mà chết. Qua tai nạn đao binh đó tới tai nạn tật dịch tức là đau ốm bệnh dịch. Vì vậy đại đa số dân chúng trên thế giới này chết mòn chỉ còn sót lại một ít người tu hành ẩn trên núi trên non. Họ còn sống thừa lại. Khi họ sống qua cái thời gian chết đó rồi, họ tìm thấy bà con dòng họ của họ chết hết, chỉ còn sót lại lưa thưa vài người, lúc đó, họ mới biết rằng từ hồi đó tới giờ dòng họ mình làm điều ác, bây giờ mới bị quả báo chết như vậy. Cho nên họ nỗ lực tu mười điều thiện lại. Khi bắt đầu tu mười điều lành thì tuổi thọ họ tăng, cứ một trăm năm thì tăng lên một tuổi. Đến bao giờ tuổi thọ lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, lúc đó dân chúng đông đảo thuần hậu, làm lành thì Phật ra đời ở dưới cội cây Long Hoa gọi là hội Long Hoa. Như vậy quí vị tưởng tượng bây giờ chúng ta đang ở cái mức tám mươi tuổi thọ mà cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm tới còn mười tuổi, rồi tăng lên cho đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, thì thời gian từ đây cho tới đó còn bao xa? Theo sách Phật thì khi Phật Thích-ca nhập diệt thì đức Di-lặc cũng nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh trong thế giới Ta-bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích-ca. Vậy tưởng chừng bao lâu Phật Di-lặc ra đời? Vậy mà có một số người nghe trong kinh nói đức Phật Di-lặc ra đời nghe nói hội Long Hoa, rồi họ bịa ra ít bữa đức Phật Di-lặc ra đời, vài bữa hội Long Hoa đến v.v… Đó là những tà thuyết để lừa bịp những Phật tử học mà không hiểu Phật pháp, lại có người tự xưng là Phật Di-lặc hoặc tự cổ động rằng mình sẽ chờ đón đức Phật Di-lặc.

Quí vị xét, nếu chúng ta tin đức Phật Di-lặc chỉ còn một phen bổ xứ lên cung trời Đâu-suất, sau này hạ sanh ở thế giới Ta-bà thành Phật, nếu tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh thì chúng ta phải tin luôn thời gian đã định ngày Phật ra đời. Chúng ta tin đức Phật Di-lặc, có hội Long Hoa mà quên thời gian đó. Rồi cứ hờ hững, cứ nghe ai nói đức Phật Di-lặc ra đời thì vội vàng chạy tới đảnh lễ mong cầu v.v… Đó là cái sai lầm quá lớn để những tà thuyết lợi dụng danh từ Phật giáo tuyên truyền mê tín dị đoan. Người Phật tử chân chánh phải hiểu rõ điều đó. Đó là tôi khảo về lịch sử từ những bộ kinh gọi là Di-lặc thượng sanh, Di-lặc hạ sanh và Di-lặc bản nguyện. Những kinh đó đều do đức Phật Thích-ca nói ra. Coi kỹ những bộ kinh đó rồi, chúng ta biết rõ lịch sử đức Di-lặc, vậy đừng nghe lời của một số người bàn tán, dựng lên những điều sai lầm. Đó là chúng tôi nói về đức Phật Di-lặc ở Ấn Độ. Bây giờ nói tới đức Phật Di-lặc ở Trung Hoa. Đức Di-lặc sang Trung Hoa hồi lúc nào? Thật ra nếu căn cứ theo hình tượng chúng ta thờ thì không có hình tượng của đức Bồ-tát ở Ấn Độ, mà là hình tượng đức Di-lặc ở Trung Hoa. Đó là một ông già bụng phệ lùn mập, như vậy là đức Di-lặc ở Trung Hoa chớ không phải ở Ấn Độ. Di-lặc ở Trung Hoa ra đời lúc nào? Điều đó chúng ta phải khảo lại. Có nhiều thuyết nói đức Di-lặc hiện giờ đang ở trên cung trời Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa chúng sanh ở thế giới này. Nhưng với tinh thần người hiểu Phật giáo Đại thừa thì Bồ-tát có báo thân, ứng thân và nhất là hóa thân. Tùy căn cơ chúng sanh mà các ngài ứng hóa vô lượng thân không thể lường được.

Cho nên sử Trung Hoa có kể mà tôi nhớ đại khái có hai hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Một hóa thân gọi là Ngài Tăng Can ở gần chùa Quốc Thanh đời nhà Tùy, tức là ở khoảng thế kỷ thứ sáu. Nói rằng Ngài có một cái am gần chùa Quốc Thanh và đi thuyết giáo nơi này nơi nọ. Có lắm lúc Ngài cỡi cọp về, chúng trong chùa thấy hoảng kinh. Khi đến khi đi không ai lường được. Có lần Ngài ôm về một đứa bé gởi trong chùa đặt tên là Thập Đắc. Thỉnh thoảng có một ông ăn mặc rách rưới ở trong núi lạnh đi ra, tuyết phủ đầy mình gọi là Hàn Sơn. Hàn Sơn và Thập Đắc được coi như là hai người ăn mày trong chùa. Các ngài là hai vị hóa ra ăn mặc rách rưới ngủ ngoài hành lang. Tới bữa ăn thì đợi chúng ăn xong hết, còn những thừa cặn gì đó ngài trút lại dùng. Có khi các ngài còn lượm cơm dưới sàn nước, rửa lại mà ăn. Chúng trong chùa coi các ngài như hai kẻ ăn mày không kém, nhưng mà có cái lạ là nhiều khi hai ngài hứng làm thơ. Những bài thơ của các ngài không ai hiểu gì hết. Một hôm bất chợt, sau một bữa trưa chúng tăng nghỉ hết, hai ngài trèo lên cổ của ngài Văn-thù và ngài Phổ Hiền ngồi. Một ông tăng ở dưới tăng xá thình lình đi lên, thấy như vậy ngạc nhiên quá mới chạy đi báo cho ông trụ trì hay. Ông trụ trì lôi hai ông xuống rầy quở đủ thứ hết. Hai vị đó là bạn thân của ngài Tăng Can. Ngài Tăng Can tịch rồi. Một hôm ông chủ huyện có bệnh nan y, ông nằm chiêm bao thấy ngài Tăng Can tự xưng là đức Di-Lặc bảo ông đến đảnh lễ Bồ-tát Vănthù, Phổ Hiền và chỉ cho ông một phương thuốc uống hết bệnh. Muốn đảnh lễ hai vị đó thì vào chùa Quốc Thanh hỏi tên Hàn Sơn, Thập Đắc vì đó là Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền. Ông huyện đó theo lời chỉ tìm thuốc uống lành bệnh, mới tìm đến chùa Quốc Thanh để gặp hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi đó ông trụ trì thấy ông huyện tới hỏi hai chú ăn mày trong chùa thì ông ngại quá không muốn kêu. Nhưng ông huyện cho biết ông mong mỏi gặp hai vị đó. Buộc lòng ông trụ trì mời hai vị ra. Hai vị nắm tay đi ra. Vừa thấy hai vị ông huyện quì mọp xuống lạy. Hai vị mới cười và nói: “Cái lão Tăng Can bày đặt làm cho ta phải bại lộ rồi.” Hai Ngài, cõng nhau chạy tuốt vô rừng mất. Do đó mới biết hai vị là hiện thân của Văn-thù, Phổ Hiền, còn ngài Tăng Can là hiện thân của đức Di-lặc. Nhưng biết thì chuyện đã rồi, không ai ngờ để đảnh lễ các ngài được hết. M ột vị khác vào thế kỷ thứ mười đời Ngũ đại ở Trung Hoa gọi là Bố Đại Hòa thượng. Vị đó gần gũi chúng ta nhất, tức là ông già quảy cái đãy to tướng, mặt tròn, miệng cười, bụng phệ, áo phạch ngực. Ngài Bố Đại Hòa thượng lúc nào cũng quảy một túi lớn, đi trong nhân gian gặp chỗ nào có cái gì, Ngài xin bỏ vô đãy. Đến chỗ có con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi với chúng nó. Cho nên người ta thấy miệng Ngài lúc nào cũng cười vui vẻ thích thú. Đó là hình ảnh đức Di-lặc, một vị Hòa thượng bụng lớn, mập, miệng cười toe toét. Tại sao gọi ngài Bố Đại Hòa thượng là Di-lặc? Nói rằng Ngài đi xin như vậy có nhiều chuyện xảy ra cho Ngài lạ lắm. Trong sử có nói đủ, ở đây tôi chỉ lược vài điểm thiết yếu cho quí vị biết mà thôi. Ngài đi xin và sống một thời gian như vậy ở tỉnh Minh Châu. Tại đó Ngài lang thang nơi này nơi nọ. Thời đó là thời Thiền Tông còn thạnh hành ở Trung Hoa. Một hôm Hòa thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi: “Đại ý Phật pháp thế nào?” Đang quảy bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị Hòa thượng hỏi thêm: “Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang cái bị để lên vai và đi. Đó là câu trả lời của Ngài. Trong lịch sử Thiền tông, cũng câu hỏi đó, Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền đem ra hỏi Tổ Hoàng Bá liền bị ăn gậy. Ở đây ngài Bố Đại Hòa thượng đối với câu hỏi đó, Ngài chỉ buông cái bị xuống đất. Hỏi có con đường tiến lên nữa không, Ngài mang bị lên vai đi tuốt. Những hình ảnh đó là thế nào? Như vậy mà người ta vẫn chưa biết thế nào, tung tích ra sao? Nhưng một hôm Ngài sắp thị tịch, mới trở về chùa. Ngồi bên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi tịch. Bài kệ đó như thế này: Di-lặc chân Di-lặc. Phân thân thiên bách ức.Thời thời thị thời nhân.Thời nhân tự bất thức. Ngài nói rằng: Di-lặc thật Di-lặc. Phân thân trong muôn ức. Thường thường chỉ dạy người đời. Người đời tự không biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Hòa thượng là hóa thân của đức Di-lặc. Vì vậy muốn vẽ hình đức Di-lặc người ta liền vẽ hình Bố Đại Hòa thượng. Đó là đức Di-lặc ở Trung Hoa. Bây giờ chúng ta thờ phượng là thờ hình ảnh đức Phật đó. Chớ đức Bồ-tát Di-lặc ở Ấn Độ thì mình không biết. Còn đức Di-lặc ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Chúng ta chỉ biết Di-lặc hóa thân ở Trung Hoa với một hình tượng là Bố Đại Hòa thượng. Đó là phần khảo về lịch sử. Đây mới nói về ý nghĩa đức Phật Di-lặc, ngày vía mùng một Tết. Ngày vía này là ngày vía gì của đức Di-lặc. Ở Ấn Độ thì không biết ngày nào, ở Trung Hoa hóa thân hai, ba đời, cũng không biết ngày nào. Nói ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa.

Như vậy ngày vía này là ngày vía gì? Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền. Các Tổ đã khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm mình, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ý nghĩa của tương lai mình. Trong nhà chùa ngày mùng một Tết có ý nghĩa gì? Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di-lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật. Không hy vọng giàu có sang trọng gì mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di-lặc. Ý nghĩa thứ hai là hình ảnh vui cười của đức Di-lặc. Đó là hình ảnh hạnh phúc. Vì vậy có chỗ thay vì để danh từ Di-lặc lại để một con người hạnh phúc. T ại sao là con người hạnh phúc? Tới đây tôi bước sang giai đoạn sâu của Thiền tông. H ỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? – Ngài quăng cái bị xuống mà không trả lời gì hết. Hỏi: Có con đường tiến lên không? – Ngài quảy bị lên vai mà đi.Đại ý Phật pháp không có gì lạ. Nói thẳng e quí vị phiền, mà không nói e cho rằng giấu giếm. Đại ý Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp tức là chấp mình chấp người nhân, ngã, Phật pháp, quyền thế, danh vọng v.v… Như vậy cái mà buông tất cả đó là đại ý Phật pháp. Nói như vậy đó e quí vị khó hiểu.Tôi nói câu chuyện hơi bình dân một chút mà không kém quan trọng. Tổ Hoàng Bá thấy Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, một vị Thiền sư cao nhất trong nhà Thiền, giữa quãng đời Đường. Ngài dạy rằng, chỉ cần có một hạnh bố thí là đầy đủ tất cả. Bố thí là cho món này món kia, tức xả hay buông bỏ. Chỉ có một hạnh xả là đầy đủ tất cả. Nói về hạnh tu Sư thúc, Sư bá mình, Ngài phê bình rằng: Trong hàng đệ tử của Mã Tổ, trên tám mươi vị Thiện tri thức, nhưng mà khi nói đến người tiêu chảy, hay nói quê mùa hơn một chút là nếu nói đến con người ỉa chảy, thì chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người ỉa chảy đầy đất. Nói đến ỉa chảy quí vị đừng nghĩ theo lối quê mùa của mình, đó là xả tất cả. Chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người xả được tất cả. Con người xả là con người đáng quí hơn hết.

Như vậy quí vị thấy rõ ràng xả là một pháp khiến cho người đạt đến viên mãn trong đạo, nếu nói theo Thiền tông. Vì vậy sau khi Ngài buông cái túi xuống rồi, hỏi còn có gì nữa không thì, Ngài quảy túi lên vai. Tới đó đừng tưởng rằng hết rồi, mình tưởng không còn gì nữa. Chính buông hết rồi, mình mới được một quảy lên vai tự tại. Cho nên nhà chùa có câu “Bỏ tất cả là được tất cả”. Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả thì mình còn tham quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả vậy là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát. Vì vậy trong nhà Thiền tông nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là phá chấp. Xả được là xong việc. Đến đây tôi đi sang giáo lý để quí vị dễ thấy dễ tu hơn. Nói đến xả là nói đến hạnh phúc cho nên quí vị nghe danh từ thường dùng nhất là Hỷ Xả. Hai cái đó cái nào là nhân cái nào là quả. Có thể nói hỷ là nhân, xả là quả, cũng có thể nói ngược lại xả là nhân hỷ là quả. Tại sao vậy? Như hằng ngày có vị nào làm phật lòng mình một chút khiến mình bực bội. Khi bực bội thì không vui. Giờ đây người đó xin lỗi mình, mình liền vui vẻ mới tha được. Còn giận thì không tha được. Trường hợp hỷ là nhân, xả là quả. Vui vẻ mà tha thứ cho họ, như vậy mới là ổn. Giận không thể tha thứ được. Trường hợp đó hỷ là nhân. Bởi vì mình vui nên mình mới xả, mới được cái quả xả. Nhưng ở đây nói con người hạnh phúc đó phần lớn xả là nhân hỷ là quả. Bởi vì chúng ta có xả được chúng ta mới vui. Nếu chúng ta không xả được thì chúng ta không bao giờ vui được. Tôi nói một việc hết sức là tầm thường, như trong gia đình quí đạo hữu, người chồng làm phật ý người vợ, trong lúc phật ý thấy nhau có vui không? Không nói chuyện nhau, không nhìn mặt nhau. Bao giờ xả được thì lúc đó mới vui vẻ nói chuyện được. Như vậy trường hợp đó do xả mà được vui. Nếu không xả thì không vui. Đó là thí dụ nhỏ, tôi thí dụ rộng hơn. Trường hợp chúng ta đối với người ngoài đời hay bè bạn, nếu họ có hành động hiếp mình hoặc có lời nói cao hơn mình. Lúc đó mình làm sao? Mình về mình có an ổn được không? Không vui đó là tại sao? Tại nhớ ông đó nói gác mình, hoặc ăn hiếp mình, ông ỷ mạnh hiếp yếu. Khi nghĩ như vậy thì về nhà ngủ không được, lăn lộn hoài nằm không yên. Muốn được ngủ yên phải làm sao? Nếu mình còn nghĩ rằng người ta ăn hiếp mình, người ta gác mình. Lúc đó mình có cảm thấy vui vẻ hạnh phúc hay không? Chắc không bao giờ có hạnh phúc được hết. Lúc đó mình sống ở trong phiền não ở trong tam độc chứ không có hạnh phúc. Bây giờ người nào mà bỏ được cái đó thật là hạnh phúc. Vì vậy hồi đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài đi khất thực ở vùng Bà-la-môn, vị lãnh tụ Bà-la-môn nổi tức đi theo Ngài. Ngài đi trước ông đi theo sau mắng. Ông mắng bao nhiêu mắng Ngài cứ chậm rãi đi. Đi tới ngã tư đường Ngài trải tọa cụ ngồi. Ông chạy tới trước mặt hỏi: “Ngài thua tôi chưa?” Ngài liền đáp bằng một bài kệ: Người hơn thì thêm oán. Kẻ thua ngủ không yên. Hơn thua hai đều xả. Ấy được an ổn ngủ. Hơn người thì người tức nên oán. Mà người ta oán mình có vui hay không? Thua người về ngủ không được nằm lăn qua trở lại hoài.

Như vậy cả hai đều là cội gốc của đau khổ, của phiền não. Thành ra cái hơn cái thua hai cái bỏ phăng đi thì người đó được an ổn ngủ. Tối đến thì nằm xuôi cẳng ngủ khò, không lo không tính, không phiền muộn gì hết. Đó là người hạnh phúc. Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền não trong lòng hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Quí vị nhớ, nếu trong gia đình chúng ta không xả được cứ giận vợ giận con hoài thì cũng không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người này ăn hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình, gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy thì người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết. Chỉ người nào nghĩ nói gác mình như gió thổi ngoài tai, rồi ngủ khò không thèm nhớ, thì đó là hạnh phúc chớ gì. Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật ý, xem đó như là lỡ lầm của người không gì quan trọng hết, không có gì phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc. Đầu năm, chúng ta quen chúc cho nhau, một năm đầy hạnh phúc. Chúc hạnh phúc mà cứ phiền giận hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Như vậy chỉ là một cái chúc suông. Ở đây tôi không chúc gì cho quí vị hết mà chỉ khuyên: “Năm nay tập tiêu chảy kha khá một chút” chừng nào quí vị tiêu chảy được như ngài Qui Tông lúc đó quí vị sẽ tràn trề hạnh phúc. Đó là tôi chỉ nói hạnh phúc nho nhỏ của thế gian. Còn nếu nói đến hạnh phúc cao siêu hơn nữa, tức là đạt đến cứu kính giải thoát thì trong kinh cũng dạy chúng ta đừng chấp cảnh, chấp người, đừng chấp tâm, đừng chấp pháp. Nếu chúng ta buông hết những cái chấp đó thì Niết-bàn hiện tại, vĩnh viễn hạnh phúc. Không chấp tức là xả. Xả được mới thật là vĩnh viễn hạnh phúc. Vì vậy nói tới đức Di-lặc là nói tới hạnh hỷ xả nên người Trung Hoa tượng trưng Ngài bằng hình ảnh ngài Bố Đại Hòa thượng, một hình ảnh vui vẻ tươi cười lúc nào cũng sẵn sàng hỷ xả. V ậy năm nay quí vị lễ đức Phật Di-lặc là nhớ đến hạnh hỷ xả của Ngài, nhớ đến cái miệng vui cười hạnh phúc của Ngài. Nếu quí vị sống được cái hạnh phúc đó thì quí vị chẳng những hạnh phúc ở hiện tại mà hạnh phúc vĩnh viễn của người vào Niết-bàn. Đó là ý nghĩa đức Di-lặc mà hôm nay chúng tôi nói.

NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT

Lịch Sinh Hoạt – Thọ Bát Quan Trai 2015

Lic_h_sinh hoat_Tho_Bat_Quan_Trai_nam_2015

Thứ Bảy 17 tháng 01 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 18 tháng 01 năm 2015

Thứ Bảy 14 tháng 02 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 15 tháng 02 năm 2015

Thứ Bảy 21 tháng 03 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 22 tháng 03 năm 2015

Khóa Tu: Thứ Sáu 10 tháng 4 đến Chủ Nhật 12 tháng 4 năm 2015

Chủ Nhật ngày 07 tháng 05 năm 2015– Đại Lễ Phật Đản

Thứ Bảy 16 tháng 05năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 17 tháng 05 năm 2015

Thứ Bảy 20 tháng 06 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 21 tháng 06 năm 2015

Thứ Bảy 18 tháng 07 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 19 tháng 07 năm 2015

Thứ Bảy 08 tháng 08 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 09 tháng 08 năm 2015

Chủ Nhật 30 tháng 08 năm 2015 Đại Lễ Vu Lan

Tháng 09 năm 2015 đến tháng 10 năm 2015: Hoằng Pháp Âu Châu

Thứ Bảy 21 tháng 11 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 22 tháng 11 năm 2015

Thứ Bảy 19 tháng 12 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 20 tháng 12 năm 2015

Mừng Xuân Di Lặc Năm Ất Mùi

Lá Thư Xuân

        Kính gởi Quý Đồng Hương và Phật tử thân mến,

          “ Nước Mỹ muôn trùng sao diệu vợi,

          Mảnh vườn của Ngoại nhớ khôn nguôi.”

Nơi miền đất khách ly hương, tất cả những người con Việt xa xứ chúng ta, ai cũng nô nức chuẩn bị đón rước Ông Bà và vui Xuân Ất Mùi 2015. Đã bao mùa xuân trôi qua, cộng đồng người Việt dù xa quê vẫn không quên cội nguồn dân tộc. Nhất là ngày tết cổ truyền Việt Nam. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, qua bao vui buồn thăng trầm lẫn lộn. Người con Phật luôn hướng về tâm linh, trở về ngôi chùa để vun bồi lòng từ bi, trí tuệ ngày càng tăng trưởng.

Kính thưa Quý Đồng Hương và Phật tử,

Mùa Xuân mang đến cho con người những niềm vui, như bông hoa nở rộ, thời tiết trong lành. Nhưng con người còn có niềm vui cao cả hơn nữa, đó là sự hỷ lạc từ lời dạy của Đức Thế Tôn. Để góp phần vung bồi phẩm chất an lạc cho gia đình người con Phật, cũng như xây dựng mùa Xuân miên viễn nhân ái đến cho mọi người chung quanh ta theo lời Phật dạy. Thiền Viện Chánh Pháp trân trọng kính mời Quý Đồng hương và Phật tử dành chút thời gian quý báu, hoan hỷ cùng đến tham dự lễ đón Xuân Di Lặc năm Ất Mùi. Đồng thời Thiền Viện có mở khóa tu 3 ngày của Tăng Đoàn Hoằng Pháp Châu Âu do Hòa Thượng Thích Như Điển trưởng đoàn từ ngày 10 đến 12 tháng 4 năm 2015 tại Thiền Viện Chánh Pháp, địa chỉ 2021 N.E 115th Street, Oklahoma City, OK 73131. Nhân dịp Xuân Ất Mùi, Thiền Viện xin chúc cho Quý đồng hương và Phật tử vô lượng an lạc vô lượng kiết tường.

Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật

                Tỳ Kheo Thích Thông Triết

          Chương Trình Đón Xuân Ất Mùi

           30 Tết, thứ tư 18 tháng 02 năm 2015

  • 12:00 PM :               Hiệp rước chư hương linh
  •  8:00 PM :               Lễ Sám Hối cuối năm
  • 10:00 PM :              Tiệc trà văn nghệ Tất Niên
  • 12:00 AM :               Khóa lễ đón Giao Thừa – Vía Phật Di Lặc

          Mùng 1 Tết (Thứ năm, 19 tháng 2 năm 2015)

  • 11:00 AM                Khóa lễ cầu nguyện và hái lộc đầu năm
  • 11:30 AM :               Cúng Cửu Huyền Thất Tổ – Chư vong linh
  • 7: 00 PM :               Tụng Kinh Dược Sư Cầu An

           Mùng 2 Tết (Thứ sáu, 20 tháng 2 năm 2015)

  • 11:00 AM :            Cúng Phật và Hiệp cúng chư hương linh
  •  7:00 PM :                Tụng Kinh Dược Sư Cầu An

          Mùng 3 Tết (Thứ bảy, 21 tháng 2 năm 2015)

  • 11:00 AM :            Cúng Phật và Hiệp cúng chư hương linh
  •  7:00 PM :                Tụng Kinh Dược Sư Cầu An
  • Mùng 4 Tết (Chủ nhật, 22 tháng 2 năm 2015)
  • 10:30AM                  Khóa lễ cầu an và cúng Phật
  • 11:00AM                  Thuyết pháp đầu năm
  • 12:00PM                  Hiệp cúng cửu huyền thất tổ
  • 7:00PM                    Tụng và Hoàn Kinh Dược Sư
  • Thọ Bát Quan Trai 7:00PM Thứ Bảy – 5:00PM Chủ Nhật tuần thứ ba của tháng.
  • Lạy Vạn Phật mỗi Tối Thứ Năm 7:00PM hằng tuần.
  • Khóa Tu Mùa Xuân: Thứ Sáu 10 Tháng 4 Đến Chủ Nhật 12 Tháng 4 Năm 2015.
  • Dưới sự hướng dẫn củaTăng Đoàn Hoằng Pháp Châu Âu do Hòa Thượng Thích Như Điển trưởng đoàn.

Anh Khoa Tu Mua He 2014

DSC_4470

DSC_4469DSC_4468DSC_4462DSC_4506DSC_4505DSC_4511DSC_4509DSC_4510DSC_4516DSC_4515DSC_4518DSC_4524DSC_4523DSC_4522DSC_4521DSC_4514DSC_4489DSC_448310464231_823461721004975_4647489193496698319_nDSC_4539PH 3Thay Phap Hoa giangThay Phap Hoa 1PH9PH 6Thay Phap Hoa giangle sam hoi 1PH 10PH 8PH 7PH 4phuong thaole sam hoi 1DSC_4548DSC_4547DSC_4546DSC_4545DSC_4541DSC_4539DSC_4537DSC_4543DSC_4544DSC_4531DSC_4533DSC_4526DSC_4525PH 3

Ý NGHĨA VỀ HÌNH TƯỢNG ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT

…… … .. . .. . .
Ý NGHĨA VỀ HÌNH TƯỢNG ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT
Khải Tâm

“Trống đánh vang lừng, chuông nhẹ ngân
Không gian xa cách nối thêm gần
Nguồn vui bừng dậy trong tin tưởng
Kỷ niệm ngày xưa Phật giáng trần”[1].
Hàng năm, cứ mỗi độ trăng tròn tháng 4 âm lịch, thì ở khắp mọi nơi, những người con Phật cùng hân hoan, trang trọng cử hành đại lễ kỉ niệm ngày đản sanh đức Từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngày mà hơn 2500 năm về trước, “một chúng sanh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian nầy, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng bi mãn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” (kinh A Hàm).
Ngày nay, dù hơn 25 thế kỷ đã trôi qua với bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, dù cả nhân loại đang tận hưởng nền văn minh vật chất của sự tiến bộ khoa học kĩ thuật, dù thế giới có biết đến Ngài là một đức Phật lịch sử, một nhân vật có thật; nhưng hình tượng một bậc siêu nhân mang tính huyền thoại nơi Ngài vẫn còn in đậm trong lòng những người con Phật. Cho nên, để không lạc vào mê tín, sùng bái đức Phật như Thượng đế, một vị thần linh ban phước; cũng như để xác định rõ niềm tin tôn giáo, một tín ngưỡng đúng nghĩa, chúng ta thử tìm hiểu thâm ý hình tượng đản sanh của đức Phật.

Theo Kinh Đại Bản[1], Bồ Tát trong thai mẹ 10 tháng mới sinh ra. Mẹ Bồ tát đứng mà sanh. Khi sanh ra, chư thiên đỡ Ngài trước, sau mới đến loài người. Thân Bồ Tát không đụng đến đất, có bốn thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ mà thưa : “Hoàng hậu hãy hoan hỷ, Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt hoặc máu mủ nào. Có hai dòng nước từ hư không hiện ra, một nóng một lạnh tắm rửa sạch sẽ cho Bồ Tát và bà mẹ. Ngài đứng vững trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương rồi thốt lời lớn như con Ngưu vương : “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh đời này nửa”.
Truyền thống kinh Bắc tạng cho rằng Thái tử sanh ra từ bên hông hữu của Hoàng hậu[1]. Và Ngài cũng bước bảy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: “ trên trời và dưới đất chỉ có Ta là hơn cả.” Bấy giờ, một hào quang kỳ diệu … chiếu khắp mười nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung động.
Nói chung, những yếu tố mang tính huyền sử đều có ghi trong Kinh Vị Tằng Hữu Pháp thuộc Kinh Trung A Hàm và Kinh Đại Bổn thuộc Kinh Trường Bộ, Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp thuộc Kinh Trung Bộ.
Và với hình ảnh một đức Phật lung linh huyền thoại như kinh văn miêu tả đó đã ít nhiều để lại trong lòng hàng Phật tử một niềm tin sâu xa. Điều nầy cũng không khó hiểu. Bởi lẽ, bất cứ một Tôn giáo nào, vị giáo chủ cũng được “thần thánh hoá”, được tôn thờ như một thần linh ban ơn giáng phước cho trần thế, cho người cầu khẩn. Đức Phật của chúng ta cũng không ngoài thông lệ ấy.
Tuy nhiên, yếu tố huyền sử của đức Phật đản sinh đã xuất phát từ trong hiện thực mà cuộc đời Ngài là một minh chứng. Từ khi sinh ra, lớn lên, xuất gia, tu học và thành đạo cho tới khi Niết Bàn, mỗi bước chân của người là sự hóa hiện bi nguyện độ sanh, mang tình thương, an vui, hạnh phúc đến cho muôn loài.
Một triết gia hiện đại có nói: “ Cho dù Thượng đế có tạo ra con người chăng nửa thì sự hiện hữu của Thượng đế cũng phải biểu hiện qua sự hiện hữu của con người”.
Là Phật tử, chúng ta phải hiểu chính xác về cuộc đời Ngài để không mang tội huỷ báng. Như trong một bài kinh đức Phật có nói rằng những ai tin mà không hiểu Ngài tức là huỷ báng Ngài.

Thật vậy, nói về đức Phật, nếu ta chỉ dựa trên quan điểm lịch sử hay tin suông theo huyền thoại thì chưa đủ. Ta phải kết hợp giữa đức Phật lịch sử và đức Phật huyền thoại thì mới có thể khắc hoạ được một cách hoàn mỹ chân dung con người siêu việt ấy.
Lịch sử đã ghi nhận sự hiện hữu của đức Phật trên thế gian nầy cách nay hơn 25 thế kỷ: Đó là một nhân vật có thật trong lịch sử nhân loại.
Năm 1986 nhà khảo cổ người Anh Cuningham đã khai quật được một trụ đá trong số 4 trụ đá do vua A Dục chôn để ghi lại nơi chốn đã gắng liền với lịch sử của đức Phật, thường gọi là Tứ Động Tâm. Trên trụ đá có khắc năm dòng chữ:
- Năm Thiện Ái Thiện Kiến thứ 25 vua A Dục đích thân đến đây chiêm bái.
- Đức Phật Đà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, Đản sinh nơi đây.
- Vua sắc dựng thanh trụ để kỉ niệm nơi Ngài đản sinh.
- Thôn Lâm-tỳ-ni, nơi Phật đản sinh được mie?n thuế.
- Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sinh.
Y cứ vào trụ đá được khai quật, Tây phương xoá bỏ quan niệm cho rằng đức Phật là nhân vật huyền thoại và chấp nhận là một nhân vật lịch sử, vì theo Tây phương, trụ đá đó chính là bản khai sinh của đức Phật.
Còn đối với công chúng, tín ngưỡng dân gian, ta phải hiểu về một đức Phật huyền thoại như thế nào để có thể chấp nhận được trong thời hiện đại? Ở đây, hình ảnh Đản sanh là được nhiều người luận bàn nhất.
Đản sanh là gì?
Thường danh từ trong nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời nầy người ta thường dùng hai chữ Đản sanh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời); hay Thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt cho con mắt trần chúng ta nhìn thấy được); hay Giáng sinh (nghĩa là từ một chỗ cao xuống một chỗ thấp). Cả ba từ nầy đều chỉ sự ra đời của đức Phật. (Nó khác sự ra đời của người phàm thì gọi là “đầu thai”).
Đức Phật ra đời đã mang đến cho nhân gian suối nguồn hạnh phúc của đạo Từ bi và chỉ đường cho chúng sanh đi từ bờ mê sang bến giác. Quả như lời nhà hiền triết A Tư Đà đã tiên đoán sau khi được vua Tịnh Phạn mời vào cung xem tướng cho Thái tử (lúc mới vừa sinh ra). Ông khẳng định: Nếu Thái tử ở ngôi vua sẽ là một đại đế thống nhiếp thiên hạ,ï đem lại an lành cho trăm họ. Còn nếu xuất gia, Thái tử sẽ thành bậc đại giác cao cả, trí tuệ tuyệt vời, có cái nhìn siêu tuyệt, phán nhận vũ trụ nhân sinh một cách xác đáng. Từ đó là một đạo sĩ chỉ dẫn cho con người đường hướng xây dựng bản thân, gia định và xã hội hạnh phúc đẹp tươi, cao hơn là giác ngộ giải thoát. Giác ngộ sự thật của muôn vật, giải thoát mọi ưu phiền của vô minh, tham ái chấp trước, sinh tử luân hồi.
Phải chăng những lời tiên tri xác thực đó đã được phát ra từ những biểu hiện hy hữu về sự đản sanh của đức Phật?
Chúng ta cũng biết, ở các nước Đông phương, sự ra đời của các bậc Thánh nhân bao giờ cũng được thần thánh hóa bằng những huyền thoại.
…Như bà Nhan Thị (mẹ Khổng Tử), sau khi đến núi Ni sơn cầu tự về thì đêm hôm đó nằm mộng thấy Hắc Đế bảo rằng bà sẽ sanh được Thánh tử và phải vào trong hang núi Không Tang để sanh. Khi tỉnh dậy thì bà biết mình có thai.
Lần khác, đang lúc bà mơ mơ màng màng như người chiêm bao thì chợt thấy có một ông già đến đứng ở trước sân, tự xưng là Ngũ Tinh, dắt theo 1 con thú giống như con trâu con mà lại có 1 sừng, mình có vằn. Con thú thấy bà liền nằm phục xuống và nhả ra 1 cái ngọc xích. Hôm sau hỏi lại chồng thì mới biết đó là con Kỳ Lân. Kỳ Lân xuất hiện, theo sự tin tưởng của người Trung Hoa thời xưa là điềm báo trước có bậc Thánh nhân ra đời.
Khi sinh Khổng Tử thì có hai con rồng xanh từ trên trời bay xuống nằm phục ở hai bên sườn núi và có 2 vị Thần Nữ đem nước hương lộ đến gội đầu cho bà Nhan Thị. Gội xong thì biến đi. Khi bà lâm sản, bổng thấy trong hang đá có 1 suối nước nóng chảy ra để bà tắm, tắm xong thì suối cạn ngay.
Ở Việt Nam thì có bà Ngô Thị Ngọc Dao khi mang thai vua Lê Thánh Tông cũng đã nằm mơ thấy trời sai tiên đồng giáng trần..v.v.
Thế nên, sự ra đời của một bậc siêu phàm như Đức Phật dẫu có thần thánh hóa cũng là điều tất nhiên và dễ hiểu.
Truyền thuyết kể rằng Hoàng hậu Ma Da chiêm bao thấy voi trắng sáu ngà từ trên không trung xuống và ẩn vào bên hông bên phải ; sau đó bà thọ thai. Voi trắng 6 ngà là một biểu tượng của Bồ tát với hạnh nguyện cứu đời. Voi tượng trưng cho sức mạnh, một sự hùng dũng luôn hướng về phía trước. Sáu ngà biểu đạt hình tượng Bồ tát thành tựu Lục độ Ba la mật (Bố thí, trì giới, nha?n nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ).
Và Thái tử cũng được sinh ra từ bên hông bên phải. Điều nầy cũng không khó hiểu đối với người Ấn vốn xem bên phải là thiêng liêng, mầu nhiệm. Bằng chứng là họ luôn đặt hình tượng tôn kính về phía bên phải. Như vậy, bên phải biểu tượng cho sự tốt đẹp thuận chiều; tức là thuận chiều Niết Bàn và nghịch chiều sinh tử. Thái tử (hiện thân của Bồ-tát) là một bậc siêu phàm, thân tâm thuần khiết, sạch trong, “cư trần bất nhiễm trần”, không bị cuốn hút bởi dòng xoáy của luân hồi sinh tử. Trái lại, Ngài đã vượt thoát mọi khổ đau ràng buộc của dục trần và đem chân lý giác ngộ giải thoát độ người cùng vượt thoát. Thái Tử sanh ra từ hông hữu cũng có nghĩa là Thái Tử bước ra khỏi phạm trù đối đãi nhị nguyên “phải – trái, tốt – xấu, thương – ghét…” mà từ vô thỉ kiếp chúng sanh đã chấp chặt.
Còn việc Thái Tử sanh bằng đường hông thì cũng có những suy luận như vầy: Có thể là do Hoàng hậu cận ngày sanh nở mà đi lại nhiều (xa giá từ hoàng cung tới vườn Lâm Tỳ Ni bằng xe bò hay xe ngựa cọc cạch lắc lư trên những con đường đất bụi nóng bức) làm ảnh hưởng đến thai nhi (?) Rồi khi Bà với tay cao (định hái hoa Vô Ưu) làm động bào thai (?) Và cũng có thể vì Hoàng hậu lớn tuổi mới có mang (trên 40 tuổi mới thọ thai) nên sanh nở khó, phải nhờ đến sự pha?u thuật (?) [1]
Thái tử vừa sinh ra liền bước đi bảy bước trên bảy hoa sen “bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc”, mà không cần người nâng dắt. Tại sao chỉ là bảy bước mà không phải con số nào khác hơn như năm bước, sáu bước hay tám bước chẳng hạn? Về điều nầy thì cũng có nhiều bản kinh viết, tuy có khác đôi chút nhưng con số 7 vẫn là thuyết chung. Có rất nhiều người giải thích khác nhau nhưng vẫn cùng chung ý nghĩa: Con số 7 là con số tốt lành giống như người Trung Hoa xem con số 9 là con số kiết tường vậy.
Số 7 là “con số huyền học Đông phương” mà người Ấn rất xem trọng. Có người giải thích Thái tử đi bảy bước là vì Ngài là vị Phật thứ bảy, tiếp nối sáu vị Phật đi trước là Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp và tới ngài là Phật Thích Ca.
Hoặc theo tư tưởng Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ không ngoài con số 7: Trên, dưới, trong, ngoài, phải, trái và chính giữa. Từ vật nhỏ như vi trần đến vật lớn như núi Tu Di, tất cả đều không ngoài con số 7.
Hoặc bảy bước tượng trưng cho ba yếu tố (quá khứ – hiện tại- vị lai) và bốn chiều không gian (Đông- Tây- Nam- Bắc).
Hoặc bảy bước chỉ cho:
-Thất đại: Địa đại (đất), thuỷ đại (nước), phong đại (gió), hoả đại (lửa), hư không đại, kiến đại và thức đại.
-Thất Bồ Đề Phần (Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả).
-Và mười thứ “Bảy pháp” trong kinh Thập Thượng thuộc kinh Trường Bộ I (7 tài sản, 7 giác chi, 7 thức trí, 7 tùy miên, 7 phi diệu pháp, 7 diệu pháp, 7 thượng nhân pháp, 7 tưởng, 7 thù diệu sự, 7 lậu tận lực)[1].
Không riêng gì Ấn Độ, con số 7 từ bao đời đã là con số thiêng liêng gắn liền với tư tưởng văn hóa của loài người như:
- Mỗi tuần gồm có 7 ngày.
- Kinh Thánh Thiên Chúa giáo cho rằng Thượng đế sinh ra vũ trụ trong 7 ngày.
- Đời Chu–Tần ở Trung Quốc có 7 vị hiền triết là Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Mặc Tử và Hàn Phi Tử.
- Trong nhạc lý có 7 âm bậc là: Do, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si.
- Thất ngôn của thơ Đường.
- Thất diện (7 tinh tú của thiên văn học) là: Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh, Hải vương tinh
- Thất tịch (mùng 7 tháng 7).
Về hình ảnh bảy hoa sen dưới gót chân Ngài thì có người nói là biểu trưng cho sự thành Phật của bảy hàng đệ tử Phật gồm: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức Xoa ma na, Ưu bà tắc và Ưu bà di.
Tất cả các hình tượng Phật, Bồ Tát đều đứng trên hoa sen vì hoa sen có tính chất đặc thù mà các loài hoa khác không có: Mọc ở bùn mà không nhiễm bùn, hoa trái kết cùng một lượt, ong bướm không đến hút mật, các thiếu nữ không lấy cài tóc, hoa nở trước bình minh.
Hoa sen không những là một loài hoa tinh khiết (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn), mà còn có một số phẩm chất như hương (thơm), tinh (sạch), nhu nhuyến (mềm mại) và đáng yêu. Đó cũng chính là hình ảnh đẹp của Đức Phật, sinh ra trong đời, lớn lên trong đời mà không nhiễm mùi đời, sống trong trần mà không nhiễm trước. Là biểu tượng cho tinh thần nhập thế của Phật giáo mà phương ngữ thường dùng là “Phật pháp bất ly thế gian giác”, “cư trần bất nhiễm trần” như hoa sen mọc trong bùn mà vẫn nở hoa thơm.
Thái tử đứng vững trên đoá sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói rằng: “Trên trời, dưới trời chỉ có Ta là tôn quý.”
“Thiên thượng thiên hạ
Duy ngã độc tôn
Vô lượng sanh tử
Ư kim tận hỉ.”
Câu này cũng có nhiều thuyết ghi khác nhau nhưng ý nghĩa lại tương đồng. Câu nói chính yếu vẫn là “trên trời, dưới trời chỉ có Ta là tôn quí.” Câu còn lại thì mỗi bản mỗi khác. Hoặc là Ta ra đời để làm an ổn chúng sanh trong tam giới khổ đau, hoặc độ hết sanh lão bệnh tử của chúng sanh, hoặc nói đây là tối hậu thân của ta … Tất nhiên câu “thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn “trong các kinh là nhất quán”.
Thoáng nghe qua chúng ta dễ dàng cho là đức Phật tự cao tự đại! Bởi vì chúng ta cho rằng cái Ta này là cái Ta của Thái tử Tất-Đạt-Đa, một cái “Ta-Ngã” sinh diệt như trăm ngàn cái Ta của chúng sanh khác… Nếu hiểu như vậy thì giải thích thế nào đây với câu nói khiêm hạ bất hủ của đức Phật: “Suốt 45 năm (hay 49 năm) thuyết pháp ta không nói một lời” ?
Hay nếu nói cái Ta đó là cái Ta của thân ngũ uẩn “duyên sanh giả hiệp”, là cái Ta của 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp thì trái với qui luật vô thường và giáo lý vô ngã của đạo Phật, “Phàm sở hữa tướng giai thị hư vọng”.(kinh Kim Cang). Sự thật cuộc đời hễ hữu hình thì hữu hoại, không một chúng sanh nào thoát khỏi sự khổ não của sanh già bệnh chết. Cho nên, cái Ta ở đây chắc chắn không phải là cái Ta của sanh diệt mà là cái “Ta chân thật”. Đó chính là Chơn ngã, Chơn tâm, Phật tánh, là bản tâm thanh tịnh, là Tâm Viên giác, là Phật tri kiến, là xa l?a tất cả những cái gì gọi là đối đãi. Cái Ta đó bản chất nó không có tên nên nó có rất nhiều tên. Nó không có hình tướng nên không bị huỷ diệt. Nó trùm khắp cả không gian và thời gian.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Như Lai Tánh, đức Phật dạy: “Ngã tức là nghĩa Như Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ đời nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được”. Cái ngã này tất cả chúng sanh đều có, không ai hơn không ai kém. Nhưng vì chúng ta đã bỏ quên, chưa nhận ra được nó nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi.[1] Ví như gã cùng tử có hạt châu trong chéo áo mà không hay biết nên cứ mãi lang thang nghèo khổ.
Và đức Phật đã chỉ cho chúng ta nhận ra cái “Ta” cao quý đó qua quá trình tự thân tu tập, hành trì, chứng ngộ và thành tựu trí tuệ vô thượng, giải thoát Niết Bàn của Ngài. Cùng với lời tuyên bố “ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, có một không hai trong lịch sử nhân loại.
Như vậy, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” không phải chỉ cho cá nhân đức Phật, không phải chỉ cho cái Ngã sinh diệt mà chính là cái Chơn Ngã chẳng hề sanh, chẳng hề diệt mà ai ai cũng có. Cái Ngã đó mới thật là cái “Ta tôn quí”.

Tóm lại, đối với sự ra đời của một bậc vĩ nhân bao giờ cũng có những yếu tố huyền sử mà ít nhiều là do con người xây dựng nên để tạo sự khác biệt với người thường, đồng thời cũng là để phù hợp với quan niệm của người phương Đông.
Cho nên, bên cạnh một đức Phật lịch sử, chúng ta còn có một đức Phật huyền thoại, một đức Phật truyền thuyết. Nhờ hình ảnh đức Phật huyền thoại nầy mà có niềm tin sâu xa trong lòng dân gian. (Tin và quy ngưỡng chứ không phải là mê tín). Điều nầy đã được khẳng định qua lời dạy của đức Phật mà những Phật tử chân chính đã vâng giữ tu trì.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu nghĩa lý thâm sâu qua cuộc đời huyền thoại của đức Phật là rất cần thiết với những ai “bước đầu học Phật”. Cũng như, để thiết lập sự truyền thông với Phật, để xứng đáng là Thích tử Như Lai, chúng ta phải ứng dụng lời dạy của Phật vào trong đời sống hàng ngày. Vì rằng đạo Phật là đạo thể nghiệm. Không có sự tu tập chúng ta sẽ không có nguồn an lạc. Thế nên, ngoài việc học Phật chúng ta phải ý thức nỗ lực hành trì , thực tập chánh niệm tỉnh giác, để trong từng phút giây của cuộc sống, chúng ta luôn có một đức Phật đản sanh.

Chương Trình Khóa Tu Mùa Hè

Thu moi khoa tu mua he 2014