hình-ảnh

now browsing by category

hình ảnh

 

Hình Đại Lễ Vu Lan 2017

 

DSC_0501DSC_0502DSC_0514DSC_7917DSC_7920DSC_7939DSC_7926DSC_7932DSC_0521DSC_0528DSC_0520DSC_0512DSC_0505DSC_7902DSC_7883DSC_7954DSC_7963DSC_7981

DSC_7958DSC_7957DSC_7967DSC_0546DSC_0548DSC_0554DSC_0533DSC_0560DSC_7966DSC_7988DSC_7992DSC_7993DSC_7996DSC_8051DSC_8036DSC_8026DSC_8011DSC_0566DSC_0568DSC_0573DSC_0520DSC_7946DSC_0559DSC_0557DSC_0578DSC_0581DSC_0609DSC_7999DSC_8002DSC_8009DSC_8005DSC_8079DSC_8077DSC_8075DSC_8089DSC_8090

Hình Khóa Tu Thường Niên 2017

DSC_0001 DSC_0002 DSC_0003 DSC_0011 DSC_0007 DSC_0008 DSC_0025 DSC_0022

DSC_0040 DSC_0053 DSC_0050 DSC_0049 DSC_0056 DSC_0058 DSC_0086 DSC_0085 DSC_0084

DSC_0096 DSC_0081

Khai Giảng Khóa Tu ngày 18/8/2017

DSC_0097 DSC_0100 DSC_0106 DSC_0108 DSC_0110 DSC_0189 DSC_0190 DSC_0199

DSC_0202 DSC_0219 DSC_0218 DSC_0205 DSC_0208 DSC_0196 DSC_0208 DSC_0207 DSC_0222 DSC_0089 DSC_0090 DSC_0088 DSC_0143 DSC_0147 DSC_0148 DSC_0150 DSC_0177 DSC_0173 DSC_0170 DSC_0172 DSC_0168

Tu Học Ngày Thứ Bảy 19/8/2017

DSC_0313 DSC_0315 DSC_0316 DSC_0320 DSC_0323 DSC_0324 DSC_0321 DSC_0337 DSC_0340 DSC_0356 DSC_0350 DSC_0354 DSC_0352 DSC_0355 DSC_0373 DSC_0377 DSC_0368 DSC_0370 DSC_0372 DSC_0388 DSC_0401 DSC_0392 DSC_0390 DSC_0389 DSC_0408

IMG_7086 DSC_0411 DSC_0417 DSC_0413 DSC_0419 DSC_0445 DSC_0427 DSC_0425 DSC_0437 DSC_0449 DSC_0447 DSC_0451 DSC_0431 DSC_0395 DSC_0397 DSC_0382 DSC_0394

DSC_0462 DSC_0079 DSC_0076 DSC_0075 DSC_0073 DSC_0072

Lễ An Vị Tôn Tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát ngày 20/08/2017

DSC_0477 DSC_0484 DSC_0481 DSC_0485 DSC_0483 DSC_0489 DSC_0491 DSC_0494 DSC_0115 DSC_0113 DSC_0112 DSC_0257 DSC_0259 DSC_0267 DSC_0275 DSC_0282 DSC_0284 DSC_0254 DSC_0256 DSC_0272 DSC_0265 DSC_0286 DSC_0381 DSC_0384 DSC_0139 DSC_0126 DSC_0128 DSC_0132 DSC_0124 DSC_0122 DSC_0120 DSC_0162

Tham Vấn Và Lễ Tạ Pháp ngày 20/08/2017

Hình Đại Lễ Phật Đản Lần Thứ 2641

Kính thưa quý Phật tử và Đồng hương,

Mùa Phật Đản lại đến trong niềm hân hoan của người con Phật khắp nơi. Ngày Đản Sinh của đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bảy bước sen vàng nâng gót ngọc,

Ba ngàn thếgiới đón Như Lai.

Thật vậy, Ngài đã đem ánh sáng giác ngộ soi sáng cho chúng sanh thoát khỏi những khổ đau của kiếp người qua những lời dạy của Ngài trong Tam Tạng giáo điển.

Để tri ân lòng đại bi của Phật, Thiền Viện Chánh Pháp sẽ cử hành Lễ Phật Đản vào ngày Chủ Nhật 14 tháng 5 năm 2017(nhằm ngày 19 tháng 4 năm Đinh Dậu).

Kính mời quý Phật tử và đồng hương hoan hỷ về Thiền Viện tham dự ngày trọng đại này, để đem lại nhiều niềm vui và ích lợi cho chúng ta.

Sau đây là chương trình buổi lễ:

10:15 AM – 10:30 AM         Phật Tử Vân Tập

10:30 AM – 11:00 AM         Khóa Lễ Kính Mừng Phật Đản

11:00 AM – 11:15 AM         Lễ Tắm Phật

11:15 AM – 12:00 PM         Thuyết Pháp

12:00  PM – 1:00 PM           Thọ Trai

2:00 PM                    Hoàn Mãn

Kính chúc quý Phật tử và đồng hương luôn được an lạc. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho thế giới hòa bình, muôn loại chúng sanh đều sống trong niềm an vui hạnh phúc.

Nam Mô Phật Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni

Trụ Trì Thiền Viện Chánh Pháp

Tỳ Kheo Thích Thông Triết

DSC_1660 DSC_1666 DSC_5849 DSC_5851 DSC_5863 DSC_5883 DSC_5877 DSC_5890 DSC_5891 DSC_5897 DSC_5928 DSC_5933 DSC_5955 DSC_5964 DSC_5969 DSC_5972 DSC_5975 DSC_5980 DSC_6002 DSC_6004 DSC_6015 DSC_6023 DSC_6032 DSC_6041 DSC_6051 DSC_6140 DSC_1698 DSC_6090 DSC_6074 DSC_6066 DSC_6064 DSC_6062

Lịch Sinh Hoạt Tu Học và Thọ Bát Quan Trai 2017

Thứ Bảy 18 tháng 02 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 19 tháng 02 năm 2017

Thứ Bảy 25 tháng 03 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 20 tháng 03 năm 2017

Tháng 04 năm 2017 Thầy Trụ Trì đi Hoằng Pháp Á Châu (Thailand, Japan, Korea)

Chủ Nhật ngày 14 tháng 05 năm 2017– Đại Lễ Phật Đản

Thứ Bảy 20 tháng 05 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 21 tháng 05 năm 2017

Thứ Bảy 17 tháng 06 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 18 tháng 06 năm 2017

Thứ Bảy 22 tháng 07 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 23 tháng 07 năm 2017

Thứ Bảy 19 tháng 08 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 20 tháng 08 năm 2017

Chủ Nhật 10 tháng 09 năm 2017- Đại Lễ Vu Lan

Thứ Bảy 23 tháng 09 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 24 tháng 09 năm 2017

Thứ Bảy 21 tháng 10 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 22 tháng 10 năm 2017

Thứ Bảy 18 tháng 11 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 19 tháng 11 năm 2017

Thứ Bảy 16 tháng 12 năm 2017 từ 7:00PM tới 5:00PM 17 tháng 12 năm 2017

Chương Trình Đón Xuân Bính Thân

Mừng Xuân Di Lặc Năm Bính Thân

Phật Lịch: 2560 – Tây Lịch: 2016

     Chương Trình Đón Xuân

©Lễ tiệc trà văn nghệ Tất Niên và đón GiaoThừa: Tối Chủ Nhật 07 tháng 02 năm 2016( 29 tháng Chạp năm Ất Mùi)

  •  1:00 PM :           Hiệp rước chư hương linh
  •  8:00 PM :           Lễ Sám Hối cuối năm
  • 10:00 PM :           Tiệc trà văn nghệ Tất Niên.
  • 12:00 AM :           Khóa lễ đón GiaoThừa.
  • 12:30 AM:            Hái Lộc Đầu Năm và Nhận Lì Xì

©Thứ Hai 08 tháng 02 năm 2016 ( Mùng 1 tháng Giêng năm Bính Thân)

  •                          Lễ Phật Đầu Năm
  • 11:30 AM :         Cúng ngọ Phật – Cúng Tiến Cữu Huyền – Chư Hương Linh
  • 7: 00 PM :     Khai Kinh Dược Sư Cầu An
  • Bắt đầu từ Mùng 2 đến Mùng 7 năm Bính Thân 7 giờ mỗi tối Tụng Kinh Dược Sư
  • Mừng Xuân Bính Thân – Chủ Nhật 14 tháng 02 năm 2016
  • 10:00AM:                 Tụng Kinh Dược Sư Cầu An
  • 11:00 AM:                Lời Chúc Tết đầu năm của Thầy Trụ Trì
  • 12:00 PM:                 Hiệp cúng chư hương linh
  •  7:00 PM:                 Tụng và Hoàn Kinh Dược Sư

 

 

  • Thọ Bát Quan Trai 7:00PM Thứ Bảy – 5:00PM Chủ Nhật tuần thứ ba của tháng.
  •  Khóa Tu Mùa Xuân: Thứ Sáu 21 Tháng 4 Đến Chủ Nhật 24 Tháng 4 Năm 2016. Chư Tôn Đức gồm có: TT Thích Thông Triết, TT Thích Hạnh Đức, ĐĐ Chơn Pháp Trú, ĐĐ Thích Viên Giác, ĐĐ Thích Thiện Đạo, ĐĐ Thích Thánh Trí, ĐĐ Thích Hạnh Tuệ, NS Thích Nữ Minh Huệ

 

  • Phái đoàn Hoằng Pháp Âu Mỹ: Trưởng đoàn: HT Thích Như Điển (Phương Trượng Chùa Viên Giác Đức quốc)

HÌNH ĐẠI LỄ VU LAN BÁO HIẾU – Phật lịch 2559 – Dương lịch 2015

DSC_4776 DSC_4778 DSC_4782 DSC_4783 DSC_4785 DSC_4786 DSC_4787 DSC_4788 DSC_4789 DSC_4790 DSC_4791 DSC_4792 DSC_4793 DSC_4794 DSC_4795 DSC_4796 DSC_4797 DSC_4798 DSC_4800 DSC_4801 DSC_4802 DSC_4803 DSC_4811 DSC_4812 DSC_4815 DSC_4816 DSC_4817 DSC_4820 DSC_4821 DSC_4822 DSC_4823 DSC_4826 DSC_4827 DSC_4829 DSC_4830 DSC_4831 DSC_4834 DSC_4836 DSC_4840 DSC_4842 DSC_4847 DSC_4849 DSC_4862 DSC_4866 DSC_4867 DSC_4869 DSC_4871 DSC_4875 DSC_4879 DSC_4885 DSC_4887 DSC_4889 DSC_4896 DSC_4900

Hinh Phat Dan

DSC_4721 DSC_4722 DSC_4723 DSC_4724 DSC_4725 DSC_4726 DSC_4727 DSC_4728 DSC_4729 DSC_4730 DSC_4731 DSC_4732 DSC_4733 DSC_4734 DSC_4735 DSC_4736 DSC_4737 DSC_4738 DSC_4739 DSC_4740 DSC_4741 DSC_4742 DSC_4743 DSC_4745 DSC_4748 DSC_4750 IMG_5364 IMG_5366 IMG_5370

Hình Đón Xuân Ất Mùi 2015

DSC_4552 DSC_4555 DSC_4567 DSC_4569 DSC_4572 DSC_4575 DSC_4574 DSC_4580 DSC_4582 DSC_4584 DSC_4586 DSC_4587 DSC_4590 DSC_4591 DSC_4595 DSC_4598 DSC_4606 DSC_4599 DSC_4600 DSC_4594 DSC_4592 DSC_4593 DSC_4607 DSC_4603 DSC_4604 DSC_4602 DSC_4612 DSC_4614 DSC_4617 DSC_4623 DSC_4625 DSC_4618 DSC_4583 DSC_4622 DSC_4640 DSC_4646 DSC_4632

Anh Khoa Tu Mua He 2014

DSC_4470

DSC_4469DSC_4468DSC_4462DSC_4506DSC_4505DSC_4511DSC_4509DSC_4510DSC_4516DSC_4515DSC_4518DSC_4524DSC_4523DSC_4522DSC_4521DSC_4514DSC_4489DSC_448310464231_823461721004975_4647489193496698319_nDSC_4539PH 3Thay Phap Hoa giangThay Phap Hoa 1PH9PH 6Thay Phap Hoa giangle sam hoi 1PH 10PH 8PH 7PH 4phuong thaole sam hoi 1DSC_4548DSC_4547DSC_4546DSC_4545DSC_4541DSC_4539DSC_4537DSC_4543DSC_4544DSC_4531DSC_4533DSC_4526DSC_4525PH 3

Ý NGHĨA VỀ HÌNH TƯỢNG ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT

…… … .. . .. . .
Ý NGHĨA VỀ HÌNH TƯỢNG ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT
Khải Tâm

“Trống đánh vang lừng, chuông nhẹ ngân
Không gian xa cách nối thêm gần
Nguồn vui bừng dậy trong tin tưởng
Kỷ niệm ngày xưa Phật giáng trần”[1].
Hàng năm, cứ mỗi độ trăng tròn tháng 4 âm lịch, thì ở khắp mọi nơi, những người con Phật cùng hân hoan, trang trọng cử hành đại lễ kỉ niệm ngày đản sanh đức Từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngày mà hơn 2500 năm về trước, “một chúng sanh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian nầy, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng bi mãn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” (kinh A Hàm).
Ngày nay, dù hơn 25 thế kỷ đã trôi qua với bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, dù cả nhân loại đang tận hưởng nền văn minh vật chất của sự tiến bộ khoa học kĩ thuật, dù thế giới có biết đến Ngài là một đức Phật lịch sử, một nhân vật có thật; nhưng hình tượng một bậc siêu nhân mang tính huyền thoại nơi Ngài vẫn còn in đậm trong lòng những người con Phật. Cho nên, để không lạc vào mê tín, sùng bái đức Phật như Thượng đế, một vị thần linh ban phước; cũng như để xác định rõ niềm tin tôn giáo, một tín ngưỡng đúng nghĩa, chúng ta thử tìm hiểu thâm ý hình tượng đản sanh của đức Phật.

Theo Kinh Đại Bản[1], Bồ Tát trong thai mẹ 10 tháng mới sinh ra. Mẹ Bồ tát đứng mà sanh. Khi sanh ra, chư thiên đỡ Ngài trước, sau mới đến loài người. Thân Bồ Tát không đụng đến đất, có bốn thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ mà thưa : “Hoàng hậu hãy hoan hỷ, Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt hoặc máu mủ nào. Có hai dòng nước từ hư không hiện ra, một nóng một lạnh tắm rửa sạch sẽ cho Bồ Tát và bà mẹ. Ngài đứng vững trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương rồi thốt lời lớn như con Ngưu vương : “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh đời này nửa”.
Truyền thống kinh Bắc tạng cho rằng Thái tử sanh ra từ bên hông hữu của Hoàng hậu[1]. Và Ngài cũng bước bảy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: “ trên trời và dưới đất chỉ có Ta là hơn cả.” Bấy giờ, một hào quang kỳ diệu … chiếu khắp mười nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung động.
Nói chung, những yếu tố mang tính huyền sử đều có ghi trong Kinh Vị Tằng Hữu Pháp thuộc Kinh Trung A Hàm và Kinh Đại Bổn thuộc Kinh Trường Bộ, Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp thuộc Kinh Trung Bộ.
Và với hình ảnh một đức Phật lung linh huyền thoại như kinh văn miêu tả đó đã ít nhiều để lại trong lòng hàng Phật tử một niềm tin sâu xa. Điều nầy cũng không khó hiểu. Bởi lẽ, bất cứ một Tôn giáo nào, vị giáo chủ cũng được “thần thánh hoá”, được tôn thờ như một thần linh ban ơn giáng phước cho trần thế, cho người cầu khẩn. Đức Phật của chúng ta cũng không ngoài thông lệ ấy.
Tuy nhiên, yếu tố huyền sử của đức Phật đản sinh đã xuất phát từ trong hiện thực mà cuộc đời Ngài là một minh chứng. Từ khi sinh ra, lớn lên, xuất gia, tu học và thành đạo cho tới khi Niết Bàn, mỗi bước chân của người là sự hóa hiện bi nguyện độ sanh, mang tình thương, an vui, hạnh phúc đến cho muôn loài.
Một triết gia hiện đại có nói: “ Cho dù Thượng đế có tạo ra con người chăng nửa thì sự hiện hữu của Thượng đế cũng phải biểu hiện qua sự hiện hữu của con người”.
Là Phật tử, chúng ta phải hiểu chính xác về cuộc đời Ngài để không mang tội huỷ báng. Như trong một bài kinh đức Phật có nói rằng những ai tin mà không hiểu Ngài tức là huỷ báng Ngài.

Thật vậy, nói về đức Phật, nếu ta chỉ dựa trên quan điểm lịch sử hay tin suông theo huyền thoại thì chưa đủ. Ta phải kết hợp giữa đức Phật lịch sử và đức Phật huyền thoại thì mới có thể khắc hoạ được một cách hoàn mỹ chân dung con người siêu việt ấy.
Lịch sử đã ghi nhận sự hiện hữu của đức Phật trên thế gian nầy cách nay hơn 25 thế kỷ: Đó là một nhân vật có thật trong lịch sử nhân loại.
Năm 1986 nhà khảo cổ người Anh Cuningham đã khai quật được một trụ đá trong số 4 trụ đá do vua A Dục chôn để ghi lại nơi chốn đã gắng liền với lịch sử của đức Phật, thường gọi là Tứ Động Tâm. Trên trụ đá có khắc năm dòng chữ:
- Năm Thiện Ái Thiện Kiến thứ 25 vua A Dục đích thân đến đây chiêm bái.
- Đức Phật Đà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, Đản sinh nơi đây.
- Vua sắc dựng thanh trụ để kỉ niệm nơi Ngài đản sinh.
- Thôn Lâm-tỳ-ni, nơi Phật đản sinh được mie?n thuế.
- Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sinh.
Y cứ vào trụ đá được khai quật, Tây phương xoá bỏ quan niệm cho rằng đức Phật là nhân vật huyền thoại và chấp nhận là một nhân vật lịch sử, vì theo Tây phương, trụ đá đó chính là bản khai sinh của đức Phật.
Còn đối với công chúng, tín ngưỡng dân gian, ta phải hiểu về một đức Phật huyền thoại như thế nào để có thể chấp nhận được trong thời hiện đại? Ở đây, hình ảnh Đản sanh là được nhiều người luận bàn nhất.
Đản sanh là gì?
Thường danh từ trong nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời nầy người ta thường dùng hai chữ Đản sanh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời); hay Thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt cho con mắt trần chúng ta nhìn thấy được); hay Giáng sinh (nghĩa là từ một chỗ cao xuống một chỗ thấp). Cả ba từ nầy đều chỉ sự ra đời của đức Phật. (Nó khác sự ra đời của người phàm thì gọi là “đầu thai”).
Đức Phật ra đời đã mang đến cho nhân gian suối nguồn hạnh phúc của đạo Từ bi và chỉ đường cho chúng sanh đi từ bờ mê sang bến giác. Quả như lời nhà hiền triết A Tư Đà đã tiên đoán sau khi được vua Tịnh Phạn mời vào cung xem tướng cho Thái tử (lúc mới vừa sinh ra). Ông khẳng định: Nếu Thái tử ở ngôi vua sẽ là một đại đế thống nhiếp thiên hạ,ï đem lại an lành cho trăm họ. Còn nếu xuất gia, Thái tử sẽ thành bậc đại giác cao cả, trí tuệ tuyệt vời, có cái nhìn siêu tuyệt, phán nhận vũ trụ nhân sinh một cách xác đáng. Từ đó là một đạo sĩ chỉ dẫn cho con người đường hướng xây dựng bản thân, gia định và xã hội hạnh phúc đẹp tươi, cao hơn là giác ngộ giải thoát. Giác ngộ sự thật của muôn vật, giải thoát mọi ưu phiền của vô minh, tham ái chấp trước, sinh tử luân hồi.
Phải chăng những lời tiên tri xác thực đó đã được phát ra từ những biểu hiện hy hữu về sự đản sanh của đức Phật?
Chúng ta cũng biết, ở các nước Đông phương, sự ra đời của các bậc Thánh nhân bao giờ cũng được thần thánh hóa bằng những huyền thoại.
…Như bà Nhan Thị (mẹ Khổng Tử), sau khi đến núi Ni sơn cầu tự về thì đêm hôm đó nằm mộng thấy Hắc Đế bảo rằng bà sẽ sanh được Thánh tử và phải vào trong hang núi Không Tang để sanh. Khi tỉnh dậy thì bà biết mình có thai.
Lần khác, đang lúc bà mơ mơ màng màng như người chiêm bao thì chợt thấy có một ông già đến đứng ở trước sân, tự xưng là Ngũ Tinh, dắt theo 1 con thú giống như con trâu con mà lại có 1 sừng, mình có vằn. Con thú thấy bà liền nằm phục xuống và nhả ra 1 cái ngọc xích. Hôm sau hỏi lại chồng thì mới biết đó là con Kỳ Lân. Kỳ Lân xuất hiện, theo sự tin tưởng của người Trung Hoa thời xưa là điềm báo trước có bậc Thánh nhân ra đời.
Khi sinh Khổng Tử thì có hai con rồng xanh từ trên trời bay xuống nằm phục ở hai bên sườn núi và có 2 vị Thần Nữ đem nước hương lộ đến gội đầu cho bà Nhan Thị. Gội xong thì biến đi. Khi bà lâm sản, bổng thấy trong hang đá có 1 suối nước nóng chảy ra để bà tắm, tắm xong thì suối cạn ngay.
Ở Việt Nam thì có bà Ngô Thị Ngọc Dao khi mang thai vua Lê Thánh Tông cũng đã nằm mơ thấy trời sai tiên đồng giáng trần..v.v.
Thế nên, sự ra đời của một bậc siêu phàm như Đức Phật dẫu có thần thánh hóa cũng là điều tất nhiên và dễ hiểu.
Truyền thuyết kể rằng Hoàng hậu Ma Da chiêm bao thấy voi trắng sáu ngà từ trên không trung xuống và ẩn vào bên hông bên phải ; sau đó bà thọ thai. Voi trắng 6 ngà là một biểu tượng của Bồ tát với hạnh nguyện cứu đời. Voi tượng trưng cho sức mạnh, một sự hùng dũng luôn hướng về phía trước. Sáu ngà biểu đạt hình tượng Bồ tát thành tựu Lục độ Ba la mật (Bố thí, trì giới, nha?n nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ).
Và Thái tử cũng được sinh ra từ bên hông bên phải. Điều nầy cũng không khó hiểu đối với người Ấn vốn xem bên phải là thiêng liêng, mầu nhiệm. Bằng chứng là họ luôn đặt hình tượng tôn kính về phía bên phải. Như vậy, bên phải biểu tượng cho sự tốt đẹp thuận chiều; tức là thuận chiều Niết Bàn và nghịch chiều sinh tử. Thái tử (hiện thân của Bồ-tát) là một bậc siêu phàm, thân tâm thuần khiết, sạch trong, “cư trần bất nhiễm trần”, không bị cuốn hút bởi dòng xoáy của luân hồi sinh tử. Trái lại, Ngài đã vượt thoát mọi khổ đau ràng buộc của dục trần và đem chân lý giác ngộ giải thoát độ người cùng vượt thoát. Thái Tử sanh ra từ hông hữu cũng có nghĩa là Thái Tử bước ra khỏi phạm trù đối đãi nhị nguyên “phải – trái, tốt – xấu, thương – ghét…” mà từ vô thỉ kiếp chúng sanh đã chấp chặt.
Còn việc Thái Tử sanh bằng đường hông thì cũng có những suy luận như vầy: Có thể là do Hoàng hậu cận ngày sanh nở mà đi lại nhiều (xa giá từ hoàng cung tới vườn Lâm Tỳ Ni bằng xe bò hay xe ngựa cọc cạch lắc lư trên những con đường đất bụi nóng bức) làm ảnh hưởng đến thai nhi (?) Rồi khi Bà với tay cao (định hái hoa Vô Ưu) làm động bào thai (?) Và cũng có thể vì Hoàng hậu lớn tuổi mới có mang (trên 40 tuổi mới thọ thai) nên sanh nở khó, phải nhờ đến sự pha?u thuật (?) [1]
Thái tử vừa sinh ra liền bước đi bảy bước trên bảy hoa sen “bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc”, mà không cần người nâng dắt. Tại sao chỉ là bảy bước mà không phải con số nào khác hơn như năm bước, sáu bước hay tám bước chẳng hạn? Về điều nầy thì cũng có nhiều bản kinh viết, tuy có khác đôi chút nhưng con số 7 vẫn là thuyết chung. Có rất nhiều người giải thích khác nhau nhưng vẫn cùng chung ý nghĩa: Con số 7 là con số tốt lành giống như người Trung Hoa xem con số 9 là con số kiết tường vậy.
Số 7 là “con số huyền học Đông phương” mà người Ấn rất xem trọng. Có người giải thích Thái tử đi bảy bước là vì Ngài là vị Phật thứ bảy, tiếp nối sáu vị Phật đi trước là Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp và tới ngài là Phật Thích Ca.
Hoặc theo tư tưởng Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ không ngoài con số 7: Trên, dưới, trong, ngoài, phải, trái và chính giữa. Từ vật nhỏ như vi trần đến vật lớn như núi Tu Di, tất cả đều không ngoài con số 7.
Hoặc bảy bước tượng trưng cho ba yếu tố (quá khứ – hiện tại- vị lai) và bốn chiều không gian (Đông- Tây- Nam- Bắc).
Hoặc bảy bước chỉ cho:
-Thất đại: Địa đại (đất), thuỷ đại (nước), phong đại (gió), hoả đại (lửa), hư không đại, kiến đại và thức đại.
-Thất Bồ Đề Phần (Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả).
-Và mười thứ “Bảy pháp” trong kinh Thập Thượng thuộc kinh Trường Bộ I (7 tài sản, 7 giác chi, 7 thức trí, 7 tùy miên, 7 phi diệu pháp, 7 diệu pháp, 7 thượng nhân pháp, 7 tưởng, 7 thù diệu sự, 7 lậu tận lực)[1].
Không riêng gì Ấn Độ, con số 7 từ bao đời đã là con số thiêng liêng gắn liền với tư tưởng văn hóa của loài người như:
- Mỗi tuần gồm có 7 ngày.
- Kinh Thánh Thiên Chúa giáo cho rằng Thượng đế sinh ra vũ trụ trong 7 ngày.
- Đời Chu–Tần ở Trung Quốc có 7 vị hiền triết là Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Mặc Tử và Hàn Phi Tử.
- Trong nhạc lý có 7 âm bậc là: Do, Re, Mi, Fa, Sol, La, Si.
- Thất ngôn của thơ Đường.
- Thất diện (7 tinh tú của thiên văn học) là: Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh, Hải vương tinh
- Thất tịch (mùng 7 tháng 7).
Về hình ảnh bảy hoa sen dưới gót chân Ngài thì có người nói là biểu trưng cho sự thành Phật của bảy hàng đệ tử Phật gồm: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức Xoa ma na, Ưu bà tắc và Ưu bà di.
Tất cả các hình tượng Phật, Bồ Tát đều đứng trên hoa sen vì hoa sen có tính chất đặc thù mà các loài hoa khác không có: Mọc ở bùn mà không nhiễm bùn, hoa trái kết cùng một lượt, ong bướm không đến hút mật, các thiếu nữ không lấy cài tóc, hoa nở trước bình minh.
Hoa sen không những là một loài hoa tinh khiết (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn), mà còn có một số phẩm chất như hương (thơm), tinh (sạch), nhu nhuyến (mềm mại) và đáng yêu. Đó cũng chính là hình ảnh đẹp của Đức Phật, sinh ra trong đời, lớn lên trong đời mà không nhiễm mùi đời, sống trong trần mà không nhiễm trước. Là biểu tượng cho tinh thần nhập thế của Phật giáo mà phương ngữ thường dùng là “Phật pháp bất ly thế gian giác”, “cư trần bất nhiễm trần” như hoa sen mọc trong bùn mà vẫn nở hoa thơm.
Thái tử đứng vững trên đoá sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói rằng: “Trên trời, dưới trời chỉ có Ta là tôn quý.”
“Thiên thượng thiên hạ
Duy ngã độc tôn
Vô lượng sanh tử
Ư kim tận hỉ.”
Câu này cũng có nhiều thuyết ghi khác nhau nhưng ý nghĩa lại tương đồng. Câu nói chính yếu vẫn là “trên trời, dưới trời chỉ có Ta là tôn quí.” Câu còn lại thì mỗi bản mỗi khác. Hoặc là Ta ra đời để làm an ổn chúng sanh trong tam giới khổ đau, hoặc độ hết sanh lão bệnh tử của chúng sanh, hoặc nói đây là tối hậu thân của ta … Tất nhiên câu “thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn “trong các kinh là nhất quán”.
Thoáng nghe qua chúng ta dễ dàng cho là đức Phật tự cao tự đại! Bởi vì chúng ta cho rằng cái Ta này là cái Ta của Thái tử Tất-Đạt-Đa, một cái “Ta-Ngã” sinh diệt như trăm ngàn cái Ta của chúng sanh khác… Nếu hiểu như vậy thì giải thích thế nào đây với câu nói khiêm hạ bất hủ của đức Phật: “Suốt 45 năm (hay 49 năm) thuyết pháp ta không nói một lời” ?
Hay nếu nói cái Ta đó là cái Ta của thân ngũ uẩn “duyên sanh giả hiệp”, là cái Ta của 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp thì trái với qui luật vô thường và giáo lý vô ngã của đạo Phật, “Phàm sở hữa tướng giai thị hư vọng”.(kinh Kim Cang). Sự thật cuộc đời hễ hữu hình thì hữu hoại, không một chúng sanh nào thoát khỏi sự khổ não của sanh già bệnh chết. Cho nên, cái Ta ở đây chắc chắn không phải là cái Ta của sanh diệt mà là cái “Ta chân thật”. Đó chính là Chơn ngã, Chơn tâm, Phật tánh, là bản tâm thanh tịnh, là Tâm Viên giác, là Phật tri kiến, là xa l?a tất cả những cái gì gọi là đối đãi. Cái Ta đó bản chất nó không có tên nên nó có rất nhiều tên. Nó không có hình tướng nên không bị huỷ diệt. Nó trùm khắp cả không gian và thời gian.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Như Lai Tánh, đức Phật dạy: “Ngã tức là nghĩa Như Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ đời nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được”. Cái ngã này tất cả chúng sanh đều có, không ai hơn không ai kém. Nhưng vì chúng ta đã bỏ quên, chưa nhận ra được nó nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi.[1] Ví như gã cùng tử có hạt châu trong chéo áo mà không hay biết nên cứ mãi lang thang nghèo khổ.
Và đức Phật đã chỉ cho chúng ta nhận ra cái “Ta” cao quý đó qua quá trình tự thân tu tập, hành trì, chứng ngộ và thành tựu trí tuệ vô thượng, giải thoát Niết Bàn của Ngài. Cùng với lời tuyên bố “ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, có một không hai trong lịch sử nhân loại.
Như vậy, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” không phải chỉ cho cá nhân đức Phật, không phải chỉ cho cái Ngã sinh diệt mà chính là cái Chơn Ngã chẳng hề sanh, chẳng hề diệt mà ai ai cũng có. Cái Ngã đó mới thật là cái “Ta tôn quí”.

Tóm lại, đối với sự ra đời của một bậc vĩ nhân bao giờ cũng có những yếu tố huyền sử mà ít nhiều là do con người xây dựng nên để tạo sự khác biệt với người thường, đồng thời cũng là để phù hợp với quan niệm của người phương Đông.
Cho nên, bên cạnh một đức Phật lịch sử, chúng ta còn có một đức Phật huyền thoại, một đức Phật truyền thuyết. Nhờ hình ảnh đức Phật huyền thoại nầy mà có niềm tin sâu xa trong lòng dân gian. (Tin và quy ngưỡng chứ không phải là mê tín). Điều nầy đã được khẳng định qua lời dạy của đức Phật mà những Phật tử chân chính đã vâng giữ tu trì.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu nghĩa lý thâm sâu qua cuộc đời huyền thoại của đức Phật là rất cần thiết với những ai “bước đầu học Phật”. Cũng như, để thiết lập sự truyền thông với Phật, để xứng đáng là Thích tử Như Lai, chúng ta phải ứng dụng lời dạy của Phật vào trong đời sống hàng ngày. Vì rằng đạo Phật là đạo thể nghiệm. Không có sự tu tập chúng ta sẽ không có nguồn an lạc. Thế nên, ngoài việc học Phật chúng ta phải ý thức nỗ lực hành trì , thực tập chánh niệm tỉnh giác, để trong từng phút giây của cuộc sống, chúng ta luôn có một đức Phật đản sanh.