thông báo

now browsing by category

thông báo tin mới đến Phật tử

 

HÌNH ĐẠI LỄ VU LAN BÁO HIẾU – Phật lịch 2559 – Dương lịch 2015

DSC_4776 DSC_4778 DSC_4782 DSC_4783 DSC_4785 DSC_4786 DSC_4787 DSC_4788 DSC_4789 DSC_4790 DSC_4791 DSC_4792 DSC_4793 DSC_4794 DSC_4795 DSC_4796 DSC_4797 DSC_4798 DSC_4800 DSC_4801 DSC_4802 DSC_4803 DSC_4811 DSC_4812 DSC_4815 DSC_4816 DSC_4817 DSC_4820 DSC_4821 DSC_4822 DSC_4823 DSC_4826 DSC_4827 DSC_4829 DSC_4830 DSC_4831 DSC_4834 DSC_4836 DSC_4840 DSC_4842 DSC_4847 DSC_4849 DSC_4862 DSC_4866 DSC_4867 DSC_4869 DSC_4871 DSC_4875 DSC_4879 DSC_4885 DSC_4887 DSC_4889 DSC_4896 DSC_4900

Hinh Phat Dan

DSC_4721 DSC_4722 DSC_4723 DSC_4724 DSC_4725 DSC_4726 DSC_4727 DSC_4728 DSC_4729 DSC_4730 DSC_4731 DSC_4732 DSC_4733 DSC_4734 DSC_4735 DSC_4736 DSC_4737 DSC_4738 DSC_4739 DSC_4740 DSC_4741 DSC_4742 DSC_4743 DSC_4745 DSC_4748 DSC_4750 IMG_5364 IMG_5366 IMG_5370

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2639

 

Kính thưa Quý Phật tử và Đồng hương

Hằng năm đến ngày Phật Đản, tất cả những người con Phật khắp nơi trên thế giới, đều hân hoan chào đón mừng ngày Đản Sanh của dấng Từ Phụ Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đã tìm ra ánh sang giác ngộ và chỉ dạy con đường giải thoát cho chúng ta, qua Tam Tạng giáo điển. Ngài cũng đã từng tuyên bố: “ Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”

Để tri ân long đại bi của đấng cha lành trong ba cõi, Thiền Viện Chánh Pháp sẽ cử hành Đại Lễ Phật Đản và Lễ Tắm Phật vào ngày Chủ Nhật 7 tháng 6 năm 2015 (nhằm ngày 21 tháng 4 năm Ất Mùi). Kính mời Quý Phật tử và đồng hương hoan hỷ dành chút ít thời gian quý báu, cùng về tham dự đại lễ. Kính chúc Quý Phật tử và đồng hương  phước huệ luôn tăng trưởng. Mọi việc đều thành tựu như nguyện. Nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho thế giới hòa bình, muôn loại chúng sanh đều sống trong an lạc.

Sau đây là chương trình buổi lễ:

10:15 AM – 10:30 AM         Phật Tử Vân Tập

10:30 AM – 11:00 AM         Khóa Lễ Kính Mừng Phật Đản

11:00 AM – 11:15 AM          Lễ Tắm Phật

11:15 AM- 12:00 PM           Thuyết Pháp

12:00 PM – 1:00 PM            Thọ Trai

2:00 PM                              Hoàn Mãn

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

Tỳ Kheo Thích Thông Triết

ĐỨC DI-LẶC QUA HÌNH ẢNH VÀ Ý NGHĨA NGÀY VÍA CỦA NGÀI

ĐỨC DI-LẶC QUA HÌNH ẢNH VÀ Ý NGHĨA NGÀY VÍA CỦA NGÀI

Hòa Thượng Thích Thanh Từ

Trong chùa tất cả những hình thức thờ phụng cũng như mọi nghi lễ đều có ý nghĩa rõ ràng, nhưng vì lâu rồi chúng ta nặng về phần tín ngưỡng, nên không xét kỹ ý nghĩa. Vì vậy đi chùa rất lâu thờ Phật quá nhiều; mà tự mình không biết ông Phật đó là thế nào? Tại sao ngày đó mình phải lễ Ngài? Hôm nay nhân ngày đầu năm, đúng là ngày vía của đức Phật Di-lặc, và lúc này chúng ta lễ Phật gọi là lễ vía đức Di-lặc. Chúng ta phải biết ý nghĩa ngày vía của Ngài thì việc lễ của chúng ta mới có giá trị thật. Vì sợ quí Phật tử không hiểu lẽ đó, cũng như chư tăng trong chùa, nhiều khi không có thời giờ nghiên cứu rõ ràng, cho nên hôm nay sẵn đây tôi nói ý nghĩa về đức Phật Di-lặc để quí vị tìm hiểu, coi như lời chúc Tết đầu năm của tôi. Nói về đức Phật Di-lặc chắc rằng đại đa số quí vị đều nhớ đến hình tượng của một ông Phật ngồi phạch ngực, mập, bụng to và miệng cười toe toét. Có khi quí vị thấy bên cạnh Ngài có 6 đứa con nít, đứa thì móc lỗ tai, đứa thì móc miệng, đứa thì thọc lét v.v… Những hình tượng đó như là một trò đùa. Mình không biết tại sao lại có chuyện đùa ở trong chùa như vậy. Đó là ý nghĩa chúng ta cần phải biết. Nói đến đức Di-lặc chúng tôi phải khảo lịch sử từ Ấn Độ sang Trung Hoa để quí vị khỏi lầm lẫn. Nhiều tà thuyết bây giờ dựng đức Phật Di-lặc làm chỗ tiêu chuẩn để họ lôi cuốn Phật tử. Đức Phật Di-lặc là tên dịch của thuở xưa. Sau này có dịch ra nhiều tên khác nhưng vì chúng ta đã quen kêu là đức Phật Di-lặc. Chữ Di-lặc là phiên âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Từ Thị (Thị là họ, Từ là từ bi). Có thuyết nói rằng khi bà mẹ của Ngài mang thai Ngài, khởi lòng thương không nỡ giết hại chúng sanh và không ăn thịt cá được cho nên nói là “Từ”. Vì Ngài sanh nơi bà mẹ đó cho nên gọi là Từ Thị. Nhưng có thuyết lại nói khác hơn. Vì thuở xưa Ngài tu về từ bi tam-muội cho nên sau này có tên là Từ Thị. Nhưng tên Ngài là A-dật-đa cũng là tiếng Phạn dịch âm. Dịch theo chữ Tàu là Vô Nan Thắng (Vô là không, Nan là khó) tức là không có thể nào hơn được. Đối với Ngài về trí tuệ và hạnh tu ít người hơn được, nên có tên Vô Nan Thắng. Đó là nói về đức Phật theo thói quen của chúng ta. Nếu nói theo kinh thì gọi là Bồ-tát Di-lặc. Hồi đức Phật còn tại thế, Bồ-tát Di-lặc là một người có lịch sử sanh ở miền Nam Thiên Trúc, ở trong dòng Bà-la-môn. Sau gặp Phật, Ngài xuất gia, tu theo hạnh Bồ-tát. Đó là hình ảnh thật có lịch sử rõ ràng ở Nam Thiên Trúc.

Khảo nhiều kinh, trước hết tôi dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm có nói thế này: Đức Phật dạy rằng sau này ở cõi Ta-bà, tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng còn mười tuổi thì đức Phật Di-lặc ra đời. Khi nghiệp ác nhiều thì tuổi thọ theo đó mà giảm. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi, cũng như bây giờ tuổi thọ chúng ta coi là một trăm tuổi vậy, thì lúc đó thế giới sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải là người ta giết chết nhau, mà chính những lá cây cỏ cũng có thể biến thành gươm bén. Chúng ta bị chặt bị cắt mà chết. Qua tai nạn đao binh đó tới tai nạn tật dịch tức là đau ốm bệnh dịch. Vì vậy đại đa số dân chúng trên thế giới này chết mòn chỉ còn sót lại một ít người tu hành ẩn trên núi trên non. Họ còn sống thừa lại. Khi họ sống qua cái thời gian chết đó rồi, họ tìm thấy bà con dòng họ của họ chết hết, chỉ còn sót lại lưa thưa vài người, lúc đó, họ mới biết rằng từ hồi đó tới giờ dòng họ mình làm điều ác, bây giờ mới bị quả báo chết như vậy. Cho nên họ nỗ lực tu mười điều thiện lại. Khi bắt đầu tu mười điều lành thì tuổi thọ họ tăng, cứ một trăm năm thì tăng lên một tuổi. Đến bao giờ tuổi thọ lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, lúc đó dân chúng đông đảo thuần hậu, làm lành thì Phật ra đời ở dưới cội cây Long Hoa gọi là hội Long Hoa. Như vậy quí vị tưởng tượng bây giờ chúng ta đang ở cái mức tám mươi tuổi thọ mà cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm tới còn mười tuổi, rồi tăng lên cho đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, thì thời gian từ đây cho tới đó còn bao xa? Theo sách Phật thì khi Phật Thích-ca nhập diệt thì đức Di-lặc cũng nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh trong thế giới Ta-bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích-ca. Vậy tưởng chừng bao lâu Phật Di-lặc ra đời? Vậy mà có một số người nghe trong kinh nói đức Phật Di-lặc ra đời nghe nói hội Long Hoa, rồi họ bịa ra ít bữa đức Phật Di-lặc ra đời, vài bữa hội Long Hoa đến v.v… Đó là những tà thuyết để lừa bịp những Phật tử học mà không hiểu Phật pháp, lại có người tự xưng là Phật Di-lặc hoặc tự cổ động rằng mình sẽ chờ đón đức Phật Di-lặc.

Quí vị xét, nếu chúng ta tin đức Phật Di-lặc chỉ còn một phen bổ xứ lên cung trời Đâu-suất, sau này hạ sanh ở thế giới Ta-bà thành Phật, nếu tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh thì chúng ta phải tin luôn thời gian đã định ngày Phật ra đời. Chúng ta tin đức Phật Di-lặc, có hội Long Hoa mà quên thời gian đó. Rồi cứ hờ hững, cứ nghe ai nói đức Phật Di-lặc ra đời thì vội vàng chạy tới đảnh lễ mong cầu v.v… Đó là cái sai lầm quá lớn để những tà thuyết lợi dụng danh từ Phật giáo tuyên truyền mê tín dị đoan. Người Phật tử chân chánh phải hiểu rõ điều đó. Đó là tôi khảo về lịch sử từ những bộ kinh gọi là Di-lặc thượng sanh, Di-lặc hạ sanh và Di-lặc bản nguyện. Những kinh đó đều do đức Phật Thích-ca nói ra. Coi kỹ những bộ kinh đó rồi, chúng ta biết rõ lịch sử đức Di-lặc, vậy đừng nghe lời của một số người bàn tán, dựng lên những điều sai lầm. Đó là chúng tôi nói về đức Phật Di-lặc ở Ấn Độ. Bây giờ nói tới đức Phật Di-lặc ở Trung Hoa. Đức Di-lặc sang Trung Hoa hồi lúc nào? Thật ra nếu căn cứ theo hình tượng chúng ta thờ thì không có hình tượng của đức Bồ-tát ở Ấn Độ, mà là hình tượng đức Di-lặc ở Trung Hoa. Đó là một ông già bụng phệ lùn mập, như vậy là đức Di-lặc ở Trung Hoa chớ không phải ở Ấn Độ. Di-lặc ở Trung Hoa ra đời lúc nào? Điều đó chúng ta phải khảo lại. Có nhiều thuyết nói đức Di-lặc hiện giờ đang ở trên cung trời Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa chúng sanh ở thế giới này. Nhưng với tinh thần người hiểu Phật giáo Đại thừa thì Bồ-tát có báo thân, ứng thân và nhất là hóa thân. Tùy căn cơ chúng sanh mà các ngài ứng hóa vô lượng thân không thể lường được.

Cho nên sử Trung Hoa có kể mà tôi nhớ đại khái có hai hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Một hóa thân gọi là Ngài Tăng Can ở gần chùa Quốc Thanh đời nhà Tùy, tức là ở khoảng thế kỷ thứ sáu. Nói rằng Ngài có một cái am gần chùa Quốc Thanh và đi thuyết giáo nơi này nơi nọ. Có lắm lúc Ngài cỡi cọp về, chúng trong chùa thấy hoảng kinh. Khi đến khi đi không ai lường được. Có lần Ngài ôm về một đứa bé gởi trong chùa đặt tên là Thập Đắc. Thỉnh thoảng có một ông ăn mặc rách rưới ở trong núi lạnh đi ra, tuyết phủ đầy mình gọi là Hàn Sơn. Hàn Sơn và Thập Đắc được coi như là hai người ăn mày trong chùa. Các ngài là hai vị hóa ra ăn mặc rách rưới ngủ ngoài hành lang. Tới bữa ăn thì đợi chúng ăn xong hết, còn những thừa cặn gì đó ngài trút lại dùng. Có khi các ngài còn lượm cơm dưới sàn nước, rửa lại mà ăn. Chúng trong chùa coi các ngài như hai kẻ ăn mày không kém, nhưng mà có cái lạ là nhiều khi hai ngài hứng làm thơ. Những bài thơ của các ngài không ai hiểu gì hết. Một hôm bất chợt, sau một bữa trưa chúng tăng nghỉ hết, hai ngài trèo lên cổ của ngài Văn-thù và ngài Phổ Hiền ngồi. Một ông tăng ở dưới tăng xá thình lình đi lên, thấy như vậy ngạc nhiên quá mới chạy đi báo cho ông trụ trì hay. Ông trụ trì lôi hai ông xuống rầy quở đủ thứ hết. Hai vị đó là bạn thân của ngài Tăng Can. Ngài Tăng Can tịch rồi. Một hôm ông chủ huyện có bệnh nan y, ông nằm chiêm bao thấy ngài Tăng Can tự xưng là đức Di-Lặc bảo ông đến đảnh lễ Bồ-tát Vănthù, Phổ Hiền và chỉ cho ông một phương thuốc uống hết bệnh. Muốn đảnh lễ hai vị đó thì vào chùa Quốc Thanh hỏi tên Hàn Sơn, Thập Đắc vì đó là Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền. Ông huyện đó theo lời chỉ tìm thuốc uống lành bệnh, mới tìm đến chùa Quốc Thanh để gặp hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi đó ông trụ trì thấy ông huyện tới hỏi hai chú ăn mày trong chùa thì ông ngại quá không muốn kêu. Nhưng ông huyện cho biết ông mong mỏi gặp hai vị đó. Buộc lòng ông trụ trì mời hai vị ra. Hai vị nắm tay đi ra. Vừa thấy hai vị ông huyện quì mọp xuống lạy. Hai vị mới cười và nói: “Cái lão Tăng Can bày đặt làm cho ta phải bại lộ rồi.” Hai Ngài, cõng nhau chạy tuốt vô rừng mất. Do đó mới biết hai vị là hiện thân của Văn-thù, Phổ Hiền, còn ngài Tăng Can là hiện thân của đức Di-lặc. Nhưng biết thì chuyện đã rồi, không ai ngờ để đảnh lễ các ngài được hết. M ột vị khác vào thế kỷ thứ mười đời Ngũ đại ở Trung Hoa gọi là Bố Đại Hòa thượng. Vị đó gần gũi chúng ta nhất, tức là ông già quảy cái đãy to tướng, mặt tròn, miệng cười, bụng phệ, áo phạch ngực. Ngài Bố Đại Hòa thượng lúc nào cũng quảy một túi lớn, đi trong nhân gian gặp chỗ nào có cái gì, Ngài xin bỏ vô đãy. Đến chỗ có con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi với chúng nó. Cho nên người ta thấy miệng Ngài lúc nào cũng cười vui vẻ thích thú. Đó là hình ảnh đức Di-lặc, một vị Hòa thượng bụng lớn, mập, miệng cười toe toét. Tại sao gọi ngài Bố Đại Hòa thượng là Di-lặc? Nói rằng Ngài đi xin như vậy có nhiều chuyện xảy ra cho Ngài lạ lắm. Trong sử có nói đủ, ở đây tôi chỉ lược vài điểm thiết yếu cho quí vị biết mà thôi. Ngài đi xin và sống một thời gian như vậy ở tỉnh Minh Châu. Tại đó Ngài lang thang nơi này nơi nọ. Thời đó là thời Thiền Tông còn thạnh hành ở Trung Hoa. Một hôm Hòa thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi: “Đại ý Phật pháp thế nào?” Đang quảy bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị Hòa thượng hỏi thêm: “Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang cái bị để lên vai và đi. Đó là câu trả lời của Ngài. Trong lịch sử Thiền tông, cũng câu hỏi đó, Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền đem ra hỏi Tổ Hoàng Bá liền bị ăn gậy. Ở đây ngài Bố Đại Hòa thượng đối với câu hỏi đó, Ngài chỉ buông cái bị xuống đất. Hỏi có con đường tiến lên nữa không, Ngài mang bị lên vai đi tuốt. Những hình ảnh đó là thế nào? Như vậy mà người ta vẫn chưa biết thế nào, tung tích ra sao? Nhưng một hôm Ngài sắp thị tịch, mới trở về chùa. Ngồi bên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi tịch. Bài kệ đó như thế này: Di-lặc chân Di-lặc. Phân thân thiên bách ức.Thời thời thị thời nhân.Thời nhân tự bất thức. Ngài nói rằng: Di-lặc thật Di-lặc. Phân thân trong muôn ức. Thường thường chỉ dạy người đời. Người đời tự không biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Hòa thượng là hóa thân của đức Di-lặc. Vì vậy muốn vẽ hình đức Di-lặc người ta liền vẽ hình Bố Đại Hòa thượng. Đó là đức Di-lặc ở Trung Hoa. Bây giờ chúng ta thờ phượng là thờ hình ảnh đức Phật đó. Chớ đức Bồ-tát Di-lặc ở Ấn Độ thì mình không biết. Còn đức Di-lặc ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Chúng ta chỉ biết Di-lặc hóa thân ở Trung Hoa với một hình tượng là Bố Đại Hòa thượng. Đó là phần khảo về lịch sử. Đây mới nói về ý nghĩa đức Phật Di-lặc, ngày vía mùng một Tết. Ngày vía này là ngày vía gì của đức Di-lặc. Ở Ấn Độ thì không biết ngày nào, ở Trung Hoa hóa thân hai, ba đời, cũng không biết ngày nào. Nói ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa.

Như vậy ngày vía này là ngày vía gì? Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền. Các Tổ đã khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm mình, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ý nghĩa của tương lai mình. Trong nhà chùa ngày mùng một Tết có ý nghĩa gì? Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di-lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật. Không hy vọng giàu có sang trọng gì mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di-lặc. Ý nghĩa thứ hai là hình ảnh vui cười của đức Di-lặc. Đó là hình ảnh hạnh phúc. Vì vậy có chỗ thay vì để danh từ Di-lặc lại để một con người hạnh phúc. T ại sao là con người hạnh phúc? Tới đây tôi bước sang giai đoạn sâu của Thiền tông. H ỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? – Ngài quăng cái bị xuống mà không trả lời gì hết. Hỏi: Có con đường tiến lên không? – Ngài quảy bị lên vai mà đi.Đại ý Phật pháp không có gì lạ. Nói thẳng e quí vị phiền, mà không nói e cho rằng giấu giếm. Đại ý Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp tức là chấp mình chấp người nhân, ngã, Phật pháp, quyền thế, danh vọng v.v… Như vậy cái mà buông tất cả đó là đại ý Phật pháp. Nói như vậy đó e quí vị khó hiểu.Tôi nói câu chuyện hơi bình dân một chút mà không kém quan trọng. Tổ Hoàng Bá thấy Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, một vị Thiền sư cao nhất trong nhà Thiền, giữa quãng đời Đường. Ngài dạy rằng, chỉ cần có một hạnh bố thí là đầy đủ tất cả. Bố thí là cho món này món kia, tức xả hay buông bỏ. Chỉ có một hạnh xả là đầy đủ tất cả. Nói về hạnh tu Sư thúc, Sư bá mình, Ngài phê bình rằng: Trong hàng đệ tử của Mã Tổ, trên tám mươi vị Thiện tri thức, nhưng mà khi nói đến người tiêu chảy, hay nói quê mùa hơn một chút là nếu nói đến con người ỉa chảy, thì chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người ỉa chảy đầy đất. Nói đến ỉa chảy quí vị đừng nghĩ theo lối quê mùa của mình, đó là xả tất cả. Chỉ có Hòa thượng Qui Tông là con người xả được tất cả. Con người xả là con người đáng quí hơn hết.

Như vậy quí vị thấy rõ ràng xả là một pháp khiến cho người đạt đến viên mãn trong đạo, nếu nói theo Thiền tông. Vì vậy sau khi Ngài buông cái túi xuống rồi, hỏi còn có gì nữa không thì, Ngài quảy túi lên vai. Tới đó đừng tưởng rằng hết rồi, mình tưởng không còn gì nữa. Chính buông hết rồi, mình mới được một quảy lên vai tự tại. Cho nên nhà chùa có câu “Bỏ tất cả là được tất cả”. Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả thì mình còn tham quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả vậy là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát. Vì vậy trong nhà Thiền tông nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là phá chấp. Xả được là xong việc. Đến đây tôi đi sang giáo lý để quí vị dễ thấy dễ tu hơn. Nói đến xả là nói đến hạnh phúc cho nên quí vị nghe danh từ thường dùng nhất là Hỷ Xả. Hai cái đó cái nào là nhân cái nào là quả. Có thể nói hỷ là nhân, xả là quả, cũng có thể nói ngược lại xả là nhân hỷ là quả. Tại sao vậy? Như hằng ngày có vị nào làm phật lòng mình một chút khiến mình bực bội. Khi bực bội thì không vui. Giờ đây người đó xin lỗi mình, mình liền vui vẻ mới tha được. Còn giận thì không tha được. Trường hợp hỷ là nhân, xả là quả. Vui vẻ mà tha thứ cho họ, như vậy mới là ổn. Giận không thể tha thứ được. Trường hợp đó hỷ là nhân. Bởi vì mình vui nên mình mới xả, mới được cái quả xả. Nhưng ở đây nói con người hạnh phúc đó phần lớn xả là nhân hỷ là quả. Bởi vì chúng ta có xả được chúng ta mới vui. Nếu chúng ta không xả được thì chúng ta không bao giờ vui được. Tôi nói một việc hết sức là tầm thường, như trong gia đình quí đạo hữu, người chồng làm phật ý người vợ, trong lúc phật ý thấy nhau có vui không? Không nói chuyện nhau, không nhìn mặt nhau. Bao giờ xả được thì lúc đó mới vui vẻ nói chuyện được. Như vậy trường hợp đó do xả mà được vui. Nếu không xả thì không vui. Đó là thí dụ nhỏ, tôi thí dụ rộng hơn. Trường hợp chúng ta đối với người ngoài đời hay bè bạn, nếu họ có hành động hiếp mình hoặc có lời nói cao hơn mình. Lúc đó mình làm sao? Mình về mình có an ổn được không? Không vui đó là tại sao? Tại nhớ ông đó nói gác mình, hoặc ăn hiếp mình, ông ỷ mạnh hiếp yếu. Khi nghĩ như vậy thì về nhà ngủ không được, lăn lộn hoài nằm không yên. Muốn được ngủ yên phải làm sao? Nếu mình còn nghĩ rằng người ta ăn hiếp mình, người ta gác mình. Lúc đó mình có cảm thấy vui vẻ hạnh phúc hay không? Chắc không bao giờ có hạnh phúc được hết. Lúc đó mình sống ở trong phiền não ở trong tam độc chứ không có hạnh phúc. Bây giờ người nào mà bỏ được cái đó thật là hạnh phúc. Vì vậy hồi đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài đi khất thực ở vùng Bà-la-môn, vị lãnh tụ Bà-la-môn nổi tức đi theo Ngài. Ngài đi trước ông đi theo sau mắng. Ông mắng bao nhiêu mắng Ngài cứ chậm rãi đi. Đi tới ngã tư đường Ngài trải tọa cụ ngồi. Ông chạy tới trước mặt hỏi: “Ngài thua tôi chưa?” Ngài liền đáp bằng một bài kệ: Người hơn thì thêm oán. Kẻ thua ngủ không yên. Hơn thua hai đều xả. Ấy được an ổn ngủ. Hơn người thì người tức nên oán. Mà người ta oán mình có vui hay không? Thua người về ngủ không được nằm lăn qua trở lại hoài.

Như vậy cả hai đều là cội gốc của đau khổ, của phiền não. Thành ra cái hơn cái thua hai cái bỏ phăng đi thì người đó được an ổn ngủ. Tối đến thì nằm xuôi cẳng ngủ khò, không lo không tính, không phiền muộn gì hết. Đó là người hạnh phúc. Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền não trong lòng hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Quí vị nhớ, nếu trong gia đình chúng ta không xả được cứ giận vợ giận con hoài thì cũng không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người này ăn hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình, gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy thì người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết. Chỉ người nào nghĩ nói gác mình như gió thổi ngoài tai, rồi ngủ khò không thèm nhớ, thì đó là hạnh phúc chớ gì. Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật ý, xem đó như là lỡ lầm của người không gì quan trọng hết, không có gì phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc. Đầu năm, chúng ta quen chúc cho nhau, một năm đầy hạnh phúc. Chúc hạnh phúc mà cứ phiền giận hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Như vậy chỉ là một cái chúc suông. Ở đây tôi không chúc gì cho quí vị hết mà chỉ khuyên: “Năm nay tập tiêu chảy kha khá một chút” chừng nào quí vị tiêu chảy được như ngài Qui Tông lúc đó quí vị sẽ tràn trề hạnh phúc. Đó là tôi chỉ nói hạnh phúc nho nhỏ của thế gian. Còn nếu nói đến hạnh phúc cao siêu hơn nữa, tức là đạt đến cứu kính giải thoát thì trong kinh cũng dạy chúng ta đừng chấp cảnh, chấp người, đừng chấp tâm, đừng chấp pháp. Nếu chúng ta buông hết những cái chấp đó thì Niết-bàn hiện tại, vĩnh viễn hạnh phúc. Không chấp tức là xả. Xả được mới thật là vĩnh viễn hạnh phúc. Vì vậy nói tới đức Di-lặc là nói tới hạnh hỷ xả nên người Trung Hoa tượng trưng Ngài bằng hình ảnh ngài Bố Đại Hòa thượng, một hình ảnh vui vẻ tươi cười lúc nào cũng sẵn sàng hỷ xả. V ậy năm nay quí vị lễ đức Phật Di-lặc là nhớ đến hạnh hỷ xả của Ngài, nhớ đến cái miệng vui cười hạnh phúc của Ngài. Nếu quí vị sống được cái hạnh phúc đó thì quí vị chẳng những hạnh phúc ở hiện tại mà hạnh phúc vĩnh viễn của người vào Niết-bàn. Đó là ý nghĩa đức Di-lặc mà hôm nay chúng tôi nói.

NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT

Lịch Sinh Hoạt – Thọ Bát Quan Trai 2015

Lic_h_sinh hoat_Tho_Bat_Quan_Trai_nam_2015

Thứ Bảy 17 tháng 01 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 18 tháng 01 năm 2015

Thứ Bảy 14 tháng 02 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 15 tháng 02 năm 2015

Thứ Bảy 21 tháng 03 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 22 tháng 03 năm 2015

Khóa Tu: Thứ Sáu 10 tháng 4 đến Chủ Nhật 12 tháng 4 năm 2015

Chủ Nhật ngày 07 tháng 05 năm 2015– Đại Lễ Phật Đản

Thứ Bảy 16 tháng 05năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 17 tháng 05 năm 2015

Thứ Bảy 20 tháng 06 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 21 tháng 06 năm 2015

Thứ Bảy 18 tháng 07 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 19 tháng 07 năm 2015

Thứ Bảy 08 tháng 08 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 09 tháng 08 năm 2015

Chủ Nhật 30 tháng 08 năm 2015 Đại Lễ Vu Lan

Tháng 09 năm 2015 đến tháng 10 năm 2015: Hoằng Pháp Âu Châu

Thứ Bảy 21 tháng 11 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 22 tháng 11 năm 2015

Thứ Bảy 19 tháng 12 năm 2015 từ 7:00PM tới 5:00PM 20 tháng 12 năm 2015

Mừng Xuân Di Lặc Năm Ất Mùi

Lá Thư Xuân

        Kính gởi Quý Đồng Hương và Phật tử thân mến,

          “ Nước Mỹ muôn trùng sao diệu vợi,

          Mảnh vườn của Ngoại nhớ khôn nguôi.”

Nơi miền đất khách ly hương, tất cả những người con Việt xa xứ chúng ta, ai cũng nô nức chuẩn bị đón rước Ông Bà và vui Xuân Ất Mùi 2015. Đã bao mùa xuân trôi qua, cộng đồng người Việt dù xa quê vẫn không quên cội nguồn dân tộc. Nhất là ngày tết cổ truyền Việt Nam. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, qua bao vui buồn thăng trầm lẫn lộn. Người con Phật luôn hướng về tâm linh, trở về ngôi chùa để vun bồi lòng từ bi, trí tuệ ngày càng tăng trưởng.

Kính thưa Quý Đồng Hương và Phật tử,

Mùa Xuân mang đến cho con người những niềm vui, như bông hoa nở rộ, thời tiết trong lành. Nhưng con người còn có niềm vui cao cả hơn nữa, đó là sự hỷ lạc từ lời dạy của Đức Thế Tôn. Để góp phần vung bồi phẩm chất an lạc cho gia đình người con Phật, cũng như xây dựng mùa Xuân miên viễn nhân ái đến cho mọi người chung quanh ta theo lời Phật dạy. Thiền Viện Chánh Pháp trân trọng kính mời Quý Đồng hương và Phật tử dành chút thời gian quý báu, hoan hỷ cùng đến tham dự lễ đón Xuân Di Lặc năm Ất Mùi. Đồng thời Thiền Viện có mở khóa tu 3 ngày của Tăng Đoàn Hoằng Pháp Châu Âu do Hòa Thượng Thích Như Điển trưởng đoàn từ ngày 10 đến 12 tháng 4 năm 2015 tại Thiền Viện Chánh Pháp, địa chỉ 2021 N.E 115th Street, Oklahoma City, OK 73131. Nhân dịp Xuân Ất Mùi, Thiền Viện xin chúc cho Quý đồng hương và Phật tử vô lượng an lạc vô lượng kiết tường.

Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật

                Tỳ Kheo Thích Thông Triết

          Chương Trình Đón Xuân Ất Mùi

           30 Tết, thứ tư 18 tháng 02 năm 2015

  • 12:00 PM :               Hiệp rước chư hương linh
  •  8:00 PM :               Lễ Sám Hối cuối năm
  • 10:00 PM :              Tiệc trà văn nghệ Tất Niên
  • 12:00 AM :               Khóa lễ đón Giao Thừa – Vía Phật Di Lặc

          Mùng 1 Tết (Thứ năm, 19 tháng 2 năm 2015)

  • 11:00 AM                Khóa lễ cầu nguyện và hái lộc đầu năm
  • 11:30 AM :               Cúng Cửu Huyền Thất Tổ – Chư vong linh
  • 7: 00 PM :               Tụng Kinh Dược Sư Cầu An

           Mùng 2 Tết (Thứ sáu, 20 tháng 2 năm 2015)

  • 11:00 AM :            Cúng Phật và Hiệp cúng chư hương linh
  •  7:00 PM :                Tụng Kinh Dược Sư Cầu An

          Mùng 3 Tết (Thứ bảy, 21 tháng 2 năm 2015)

  • 11:00 AM :            Cúng Phật và Hiệp cúng chư hương linh
  •  7:00 PM :                Tụng Kinh Dược Sư Cầu An
  • Mùng 4 Tết (Chủ nhật, 22 tháng 2 năm 2015)
  • 10:30AM                  Khóa lễ cầu an và cúng Phật
  • 11:00AM                  Thuyết pháp đầu năm
  • 12:00PM                  Hiệp cúng cửu huyền thất tổ
  • 7:00PM                    Tụng và Hoàn Kinh Dược Sư
  • Thọ Bát Quan Trai 7:00PM Thứ Bảy – 5:00PM Chủ Nhật tuần thứ ba của tháng.
  • Lạy Vạn Phật mỗi Tối Thứ Năm 7:00PM hằng tuần.
  • Khóa Tu Mùa Xuân: Thứ Sáu 10 Tháng 4 Đến Chủ Nhật 12 Tháng 4 Năm 2015.
  • Dưới sự hướng dẫn củaTăng Đoàn Hoằng Pháp Châu Âu do Hòa Thượng Thích Như Điển trưởng đoàn.

Chương Trình Khóa Tu Mùa Hè

Thu moi khoa tu mua he 2014

Thư Mời Đại Lễ Phật Đản Sanh Lần Thứ 2638

Thu moi du le Phat Dan 2014

Vu lan nhớ mẹ

 

red_rose_45

Nhìn mẹ vật vã, tay chân run rẩy, khó nhọc hít từng hơi thở, cố gồng mình chống lại cái chết đang chiếm dần cơ thể, tôi kiềm lòng không được, lặng lẽ rút một ống thuốc trợ lực định tiêm thêm cho mẹ thì anh tôi nắm tay tôi cản lại, bảo:“Thôi đi em, em muốn mẹ sống với em hoài, em thì hạnh phúc vì có mẹ bên cạnh, còn mẹ, mình mẩy lở loét, đau đớn từng giây, từng phút, bệnh tật đã hành hạ mẹ hơn hai mươi mấy năm rồi. Đừng ích kỷ chỉ nghĩ đến hạnh phúc của mình mà quên nỗi thống khổ của mẹ, em hãy để mẹ ra đi cho nhẹ nhàng thân xác”.

Tôi buông ống tiêm, gục đầu vào tường khóc nức nở, có phải tôi quá ích kỷ nên cứ muốn mẹ sống hoài bên tôi không, đôi chân tôi như đổ sụp xuống khi nghe lời nói đó. Thôi thì đành phải ngừng tất cả thuốc men trong giờ phút này… Ôi, có cái đau nào hơn cái đau của người con phải bó tay nhìn người thương yêu nhất của mình vật vã như bị lột da, như bị xé từng miếng thịt… lúc đi vào cõi hư vô. Không khí im lặng, chết chóc bao trùm lấy căn nhà bấy lâu vẫn rộn ràng tiếng nói cười của mẹ con chúng tôi.

Có tiếng chó sủa ngoài cổng, người cháu gái đã xuất gia gọi mẹ tôi bằng cô ghé thăm. Thấy cảnh tượng đang diễn ra, cô ấy rất bình tĩnh, một mặt bảo chị tôi ngồi kế bên mẹ niệm Phật cho bà nghe, một mặt thắp hương lên bàn thờ Phật.

Sau khi thắp hương, khấn nguyện xong, cô đến bên giường mẹ tôi khai thị, nói những lời an ủi, phân tích cõi trần tạm bợ, khuyên mẹ tôi niệm Phật A Di Đà để theo Phật về Tây phương Cực lạc. Cô ấy lại soạn trong tay đãy lấy ra đưa cho tôi một băng cassette ghi lời tụng kinh tiếp dẫn, bảo tôi mở máy cho mẹ tôi nghe. Băng chạy được khoảng mười phút, trong tiếng tụng kinh đều đều, tôi thấy khuôn mặt mẹ giãn dần ra, hơi thở nhẹ nhàng trở lại, tay chân không còn run rẩy, co giật nữa. Tôi thầm nghĩ, quả là kỳ diệu, không có một loại thuốc nào có thể đem lại hiệu quả như thế. Có lẽ, khi nghe lời khai thị, mẹ tôi đã thấu hiểu lẽ vô thường, tử sanh, dứt được lòng sợ hãi nên mới trở lại trạng thái yên bình, chấp nhận số phận như vậy. Mẹ tôi mất vào trưa ngày rằm tháng Tư năm đó.

Từ việc giúp mẹ tôi ra đi trong an bình, tôi đã có cái nhìn khác đối với người cháu gái của mẹ tôi. Lúc trước, khi biết cô ấy xuất gia về một thiền viện ở miền Đông tu tập, bỏ lại một bà nội tuổi đã ngoài bảy mươi và đứa em gái còn nhỏ dại, tôi đã phê phán kịch liệt sự ra đi đó, tôi bảo cô ấy thiếu trách nhiệm, không thương yêu kẻ đã cưu mang mình trong hoàn cảnh côi cút. Bây giờ tôi mới thấy được giá trị của người xuất gia, giúp thân nhân giải thoát khổ đau, vượt qua luân hồi sinh tử là hình thức báo hiếu cao cả, quý hơn những việc như gần gũi, lo thuốc thang, cơm áo gấp nhiều lần…  Và cũng từ việc đó, tôi bắt đầu có niềm tin và đến với Phật pháp.

Sau đám tang, do bận bịu xây mộ, cúng các tuần thất cho mẹ và việc các anh chị tới lui thường xuyên, tôi không thấy trống vắng lắm nhưng khi tất cả mọi việc đã xong xuôi, các anh chị ai về nhà nấy tôi mới bắt đầu thấm thía về sự ra đi của mẹ. Kia chiếc xe lăn đã gắn bó với mẹ bao nhiêu năm trời, đó chiếc giường mẹ ngủ mà hàng đêm tôi vẫn thường đến thăm hỏi, đàn hát cho mẹ nghe, đây chiếc ghế mẹ tôi đã ngồi may quần áo cho khách kiếm từng đồng bạc để lo cho chúng tôi ăn học… Đâu đâu cũng nhắc tôi nhớ đến mẹ.

Đêm ngủ, tôi cứ mong là tôi đang sống trong cơn ác mộng, khi tỉnh dậy tôi vẫn còn có mẹ, nhưng tỉnh rồi biết mình thật sự đã vĩnh viễn mất người, hai dòng nước mắt cứ tuôn trào vì nỗi đau xót cùng cực. Rất nhiều lần tôi gào to gọi mẹ đến rát cổ trong giấc mơ, giật mình dậy tôi vẫn muốn hét thêm để chối bỏ một thực tế phũ phàng. Ôi, có nỗi đau nào bằng nỗi đau mất mẹ!

Đêm rằm tháng Bảy năm sau, tôi ở nhà một mình, vợ và đứa con gái vừa tròn tám tuổi của tôi đi dự lễ Vu lan tổ chức ở chùa gần nhà. Sau thời tụng kinh Vu lan – Báo hiếu, tôi nằm trên võng, hai hàng nước mắt tuôn rơi vì nhớ mẹ. Nhớ những nhọc nhằn của mẹ tôi phải trải qua, nhớ những kỷ niệm buồn vui trong những ngày được sống gần mẹ…

Cuộc đời mẹ tôi có thể nói là một chuỗi dài những nhọc nhằn lo toan cho chồng con. Thuở ấy, ngoại tôi gả mẹ cho ba tôi với hy vọng cuộc đời con gái mình được sống trong cảnh no ấm vì cha tôi lúc đó là người có của ăn của để do ông bà truyền lại. Đâu ngờ, do thời cuộc loạn lạc, nhà bị giặc Pháp đốt nhiều lần, đất điền tứ tán, cả gia đình lâm vào cảnh thiếu trước hụt sau.

Do ở trong vùng chiến sự nên cha tôi gởi người chị lớn lên tỉnh lỵ, ăn nhờ ở đậu, làm việc nhà cho một người bà con giàu có để được học hành hầu có một cái nghề để mưu sinh, hai người anh lớn của tôi cũng được đưa lên Sài Gòn làm thuê kiếm sống, tránh giặc giã ở quê nhà. Thế là còn sáu chị em chúng tôi cha giao phó cho mẹ quán xuyến. Đất điền chỉ còn có ba công vườn với mấy chục gốc dừa mà phải lo một bầy con đang tuổi ăn, tuổi lớn, mẹ tôi phải làm quần quật, buông chuyện này, bắt chuyện kia để kiếm tiền nuôi con.

Thân đàn bà một mình phải một nắng hai sương, không nề khó nhọc, không kể tánh mạng chỉ mong một điều cho con mình lớn lên. Ngoài nghề may vá, mẹ tôi còn gói bánh ít đem ra chợ bán, mua lại dừa của các chủ vườn lân cận đem về bổ, phơi khô bán kiếm đồng lời. Cứ như thế, hết chuyện này đến chuyện khác, mẹ tôi làm việc quần quật để có cái ăn, cái mặc cho lũ con.

Đang miên man suy nghĩ, nhớ những kỷ niệm lúc sống cùng bên mẹ, tôi chợt thấy một con bướm đêm vụt bay qua cửa sổ vào nhà, sau một hồi bay vòng quanh phòng khách, con bướm bỗng bay đến đậu vào lư hương trên bàn thờ mẹ tôi. Nhìn cảnh đó, tôi chợt nhớ thời tôi còn thơ ấu, mẹ hay kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích, có chuyện hồn người chết hay mượn cánh bướm trở về thăm thân nhân…

Lúc ấy, tôi bỗng ngồi dậy, đưa tay ra như một kẻ mộng du, buột miệng nói: Có phải mẹ, mẹ hãy đậu vào tay con! Kỳ lạ thay, con bướm đang đậu ở lư hương bỗng vỗ cánh bay vòng quanh nhà rồi đột ngột bay đến đậu vào bàn tay đang xòe ra của tôi. Lúc đó, tôi có cảm giác như có một luồng điện chạy rần qua tay. Phải chăng đó là thần thức của mẹ tôi đang mượn cánh bướm này để về thăm đứa con trai đang đau buồn nhớ người trong đêm Vu lan trầm mặc?

Nhưng bản năng của người đàn ông, lý trí của người làm công tác khoa học, tôi không tin vào điều đó, tôi vẫy tay cho con bướm bay đi, rồi lại nói: Nếu phải mẹ, hãy trở lại với con! Con bướm đang bay vòng quanh phòng khách đột ngột quay trở lại đậu vào bàn tay tôi lần nữa. Toàn thân tôi như sụp xuống, nước mắt chảy ràn rụa, tôi đưa tay thật gần mắt để nhìn con bướm, đôi mắt nó lóng lánh phản chiếu ánh đèn như nhìn tôi muốn nói điều gì đó rồi đột ngột vỗ cánh bay lên lượn một vòng rồi trở lại đậu trên lư hương ở bàn thờ của mẹ tôi.

Đang bối rối, nửa tin đó là hương hồn của mẹ mượn cánh bướm về thăm con, nửa nghĩ chỉ là sự tình cờ trùng hợp thì vợ con tôi đi chùa về tới. Con tôi liến thoắng chạy vào, khoe với tôi rằng trong lễ cài bông hồng ở chùa nó được cài bông hồng đỏ. Nó lại bảo, tôi và mẹ nó chỉ được bông hồng trắng mà thôi vì ông bà nội, ngoại đã mất hết rồi. Xong nó lấy chiếc bông hồng trắng mang từ chùa về dán lên ngực áo tôi. Nó lại kể lúc hát bài Bông hồng cài áo có nhiều người lớn khóc lắm, chắc họ nhớ cha mẹ của họ, nó thì thào nói…. Tôi ôm con vào lòng, chua xót nghĩ thầm, rồi một ngày nào đó con cũng như ba mẹ, con cũng phải mang trên ngực một bông hồng trắng bởi đó là quy luật tử sanh của kiếp người.

Khi cả nhà đi ngủ, tôi đến bên bàn thờ mẹ, thắp một nén hương, khấn: “Mẹ ơi, bấy lâu được gần gũi chăm sóc mẹ, con hạnh phúc vô cùng nhưng nay mẹ ra đi khiến lòng con đau đớn quá bởi chữ hiếu làm sao trả cho hết trong chừng năm tháng đó. Nếu con có thể cõng mẹ giẫm qua bao chông gai trên trái đất này, máu chân con dù có chảy tràn như sông như suối cũng không thể trả hết những nghĩa ân mà mẹ đã vì chúng con lo toan cực nhọc cả đời. Nay âm dương cách trở, không thể lo miếng cơm, ly nước, quạt nồng, ấp lạnh cho mẹ nữa, bây giờ con chỉ còn cách theo lời Phật dạy, ăn chay, niệm Phật, tụng kinh, thực hành thiện nghiệp cầu phước báo mà hồi hướng cho mẹ, mong mẹ được siêu thoát, sanh về cõi Tịnh độ an bình”.

Lúc tôi khấn nguyện, con bướm đêm vẫn lặng lẽ đeo trên cạnh lư hương, không biết nó có nghe lời thì thầm của tôi không mà đôi cánh khẽ rung rung… Chợt nó tung cánh bay lên cao, lượn một vòng rồi bay ra cửa sổ đang mở, biến mất dạng. Tôi đến bên khung cửa sổ nhìn ra ngoài, đêm nay trăng sáng vằng vặc, chợt  nghe có tiếng ai trầm buồn hát bài Bông hồng cài áo: “Một bông hồng cho những ai đang còn mẹ… Để lòng mình vui sướng hơn…”, tim tôi lại nhói đau.

Hương Đức

Đạo hiếu Đạo Phật & Ca Dao VN

Đức Phật hay Đạo Phật tự ngàn xưa không những giới thiệu cho chúng ta có nhận thức được sự KHỔ và con đường tu tập để đưa đến chấm dứt mọi khổ đau ngay trong hiện tại, mà còn giúp cho chúng ta có một tầm nhìn trong sáng để trang bị hoàn thiện về đạo lý “Nhân bản” của con người trên mọi sinh lộ của cuộc đời.
Tuy nhiên, Đạo Phật khi du nhập vào bất cứ một quốc độ nào, trước tiên là phương pháp chuyển hóa để thực hiện tinh thần hội nhập , lưu xuất trong cộng đồng, lại  cần phải tùy vào nền văn hóa giáo dục, những phong tục tập quán truyền thống đã được truyền tụng, tôn trọng, ca ngợi sẵn có của quốc độ ấy. Thế nhưng, cho dù có sự khác biệt thế nào đi nữa, thì lời dạy của Đức Phật cũng đã được khẳng định về mặt đạo lý hay luân lý của con người  từ muôn thuở xa xưa cho đến ngàn thuở xa sau, như :
                  “Tâm Hiếu là tâm Phật’
                   Hạnh Hiếu là hạnh Phật”
Tâm và Hạnh là hai nhân tố song hành bất tuyệt biểu thị một giá trị tồn tại bất biến trong mọi hình thức đạo lý của con người. Chúng ta thấy, sự minh chứng đạo lý nơi bản xứ trong truyện thơ dân gian “Quan Âm Diệu Thiện” và đã được dân chúng Việt Nam biết đến nhiều, như ;
                                          “Chân như Đạo Phật Nhiệm mầu
                                           Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân
                                            Hiếu là độ được song thân
                                            Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài…”
Qua lăng kính đạo đức của người Việt Nam đã có từ những thời đại ngàn xưa, sự chắt lọc ý thức truyền thừa không ngừng trong cộng đồng xã hội, đã tạo nên những đường nét thẫm mỹ bằng những ý niệm hành động giáo dục trong sáng lành mạnh được thấm nhuần vào trong mọi tầng lớp sinh hoạt đậm chất liệu đạo đức con người và vẫn luôn được thắp sáng, hiện hóa trong sự tươi mát, không những tự ngàn xưa, mà còn cho cả đến ngàn sau.
Do đó, để xây dựng cho bản thân một nhân cách đích thực, thì tinh chất của nhân cách ấy chính là lòng “Nhân”, những nỗi trắc ẩn trong đời sống được nói đến và được hành động một cách đúng đắn. Nhưng “Hiếu” lại chính là cội gốc của Nhân, là nền tảng đạo đức muôn đời trong trời đất.Theo quan điểm của Nho Giáo, thì Hiếu là gốc của Đức, là nguồn của Giáo, bước đầu của đạo Hiếu là phải giữ mình, vì thân thể tóc da của ta là từ nơi cha mẹ, nên không dám làm tổn thương, là nết đầu của Hiếu.Lập thân đem lại lợi mình, có danh phận ở đời, làm rạng rỡ cho cha mẹ, dòng họ,  là nết cuối của Hiếu “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, Hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, Hiếu chi chung dã” (Hiếu Kinh).
Thế nhưng, nếu đức tính Hiếu hay Nhân không được nuôi dưỡng để được lớn mạnh trong mỗi lúc, thì mọi hình thức trong cuộc sống sẽ bị biến dạng và sẽ làm nguy hại cho xã hội con người, nhất là ngay trong thời đại của chúng ta. Điều ấy, Đức Phật đã nói lên ngay từ buổi ban đầu, điều mà có năng lực ươm mầm cho đức Nhân và Hiếu, như :
“ Nầy Mahanama, dựa trên thiện nam tử có lòng Tin, các người trong gia đình được lớn lên về 5 phương diện; 1./  Lớn lên về lòng Tin, 2./ Lớn lên về Giới, 3./ Lớn lên về học hỏi ( các Thiện pháp), 4./ Lớn lên về Bố Thí, 5./ Lớn lên về Trí Tuệ. Dựa trên thiện nam tử có lòng Tin, các người trong gia đình được lớn lên vì 5 sự lớn lên nầy” (Kinh Tăng Chi, II).
Như vậy, qua 5 sự nuôi dưỡng ấy để được lớn lên, lớn mạnh, không phải chỉ để trong gia đình, mà là luôn thuận theo dòng chảy của thời gian, dẫu có bao biến động làm cồn lên nhịp sống.v.v.. Thì sự trải nghiệm qua bao dãi dầu, mỗi chặng đường đời. Khi ấy, con người vẫn tiếp nhận, tiêu hóa và tồn tại một giá trị bất tuyệt không thể thiếu được đó là Hiếu, nếu thiếu, thì không thể tròn nghĩa con người. Bởi vì, trong mỗi đời người ít nhiều đều có sự nếm trải, tiếp nhận hay từ chối.
 Những tiếp nhận nào mà trong đó có sự xúc cảm từ địa vị, lợi lạc từ tài sản, những lạc thú từ những tiểu tiết thường tình… thì sớm chiều rồi cũng sẽ tàn phai vô vị, lãng quên theo dòng biến động thay đổi bất tận của thời gian, nó sẽ trở thành những hoài niệm vô vọng mà thôi. Nhưng, đạo lý “Hiếu” luôn được thắp sáng, rực sáng tận sâu thẳm tâm hồn của con người, luôn soi rọi trên mọi nẻo đời và vô cùng theo với thời gian, thành một sức sống tươi mát thánh thiện. Sự sống ấy, luôn nói lên cách hành xử căn bản từ tinh chất “Nhân Bản”, đó là việc biết ơn và đền ơn.
Nói đến việc biết ơn và đền ơn, trước hết, với thái độ của người con và nhất là đối với người đệ tử Phật không gì khác hơn là thực hiện tỏ bày một niềm Hiếu Tâm, Hiếu Hạnh và Hiếu Kính, Hiếu Đạo đối với Tổ thầy, ông bà cha mẹ khi còn sanh tiền khi chúng ta còn có cơ hội chỉ đến với chúng ta một lần trong đời, như lời dạy của Đức Phật đã cảnh báo, đánh thức trong lòng cho mỗi người con, đó là vận may tối thượng đến với con cái:
                                 “ Phụng dưỡng cha và mẹ
                                   Là vận may tối thượng”
                                                                         (Kinh Tiểu Bộ I)
Cái vận may ấy, chúng ta có thể đánh mất bất cứ lúc nào trong cuộc đời vô thường và ngắn ngủi nầy. Chính vì lẽ đó, Đức Phật đã nhấn mạnh vào trọng điểm nhằm nhắc nhớ  người con phải thấy và biết về hai cái ơn sâu nặng ấy.
Với đạo lý Nho giáo, Đức Khổng Tử cũng đã khuyên nhắc chúng ta: “Cư tắc trí kỳ Kính, Dưỡng tắc trí kỳ Lạc, Bệnh tắc trí kỳ ưu, Tang tắc trí kỳ Ai, Tế tắc trí kỳ Nghiêm” (Ở thì phải hết lòng cung kính, Phụng dưỡng thì phải vui vẻ, đau yếu thì phải biết lo toan, qua đời thì phải thương tiếc, cúng tế thì phải biết trang nghiêm.) qua những điều ấy, cũng đã thể hiện tương quan đến sự sống và sự chết từ cái đẹp suối nguồn của đạo lý con người muôn thuở.
Chúng ta cùng nghe lại, cùng suy nghiệm những lời quí giá bao đời của cha ông chúng ta trong kho tàng cadao dân ca Việt Nam, như:
                                       “Ru hời, ru hỡi, ru hơi
                                         Công cha như núi ngất trời
                                         Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông
                                         Núi cao, biển rộng mênh mông
                                         Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi”.
Con người khi sanh ra trong đời, luôn có sự đan xen nhiều mối quan hệ chuyền níu trong xã hội, thế nhưng trong đó, mối quan hệ gần gũi thiêng liêng mật thiết nhất, đó là cha và mẹ, ân nghĩa sâu nặng nhất cũng bắt đầu từ cha và mẹ. Và cũng chính nhờ vào mối quan hệ thiêng liêng đó, nên có sự nuôi dưỡng mầm yêu thương ấy của những bậc cha mẹ cũng như những nhà lảnh đạo về mặt đạo đức, văn hóa giáo dục một cách tích cực trong sáng đúng nghĩa, thì đây là một cơ may đem lại cho đời sống từ gia đình đến ngoài xã hội trong một đất nước hằng có được một nếp nghĩ, sinh hoạt lành mạnh, nhiều sự bình yên. Nếu trái lại, thì sẽ phát sinh những bất an, đồng thời làm mất đi một trật tự đáng tiếc.
Qua một cái nhìn khác về đạo lý của “Hiếu”, Đức Phật đã giúp cho chúng ta phân định được giữa cái “Thiện và Ác” như sau : “Nầy các tỳ kheo, đối với những người độc ác, đây là những đặc tánh của họ được biết đến, tức là không biết ơn và không đền ơn. Còn bậc chân nhân, nầy các tỳ kheo, là biết ơn, là đền ơn. Đối với những thiện nhân, đây là những đặc tánh của họ được biết đến, tức là biết ơn và đền ơn…” (Kinh Tăng Chi I, 118).
Chúng ta thấy, Đức Phật nhấn mạnh ở chổ “… Đây là những đặc tánh của họ được biết đến…”. Thế nên, sự sai khác chênh lệch nhau đã được bắt đầu từ một phát xuất do ý niệm đưa đến hành động, Và cũng từ hành động đã biểu thị cho thế giới tâm tư của vị ấy có cao thượng hay thấp kém. Đến đây, chúng ta lại nghe thêm lời dạy khác của Đức Phật giữa cái ác và cái thiện như thế nào !
                                “Điều thiện tối cao
                                  Không gì hơn bằng Hiếu
                                  Điều ác cực ác
                                  Không gì hơn bất hiếu”
                                                                        (Kinh Nhẫn Nhục).
Nếu như theo đà xu hướng và phát triển của xã hội hôm nay, thì cái ác (bất hiếu), nói một cách khác là không biết ơn và đền ơn cũng đã được báo động một cách đáng lo ngại về mặt đạo đức giáo dục, trong khi mức sống không phải dễ dàng đem lại ổn định phần đông cho số người trong cộng đồng. Mặc dù trên hình thức nào đó, chúng ta thấy những phương tiện phục vụ ngày càng nâng cao theo mỗi lúc. Đồng thời, tạo thêm nhiều nhu cầu bám víu, kích thích từ những cảm thọ lạc thú thấp kém hay bởi lắm bề bộn để được sinh tồn trong cuộc sống mà lãng quên hay bỏ qua đi .v.v… Điều nầy, đối với những nhà lảnh đạo tinh thầntôn giáo cũng như các vị có chức năng trong giới đào tạo và giáo dục của một tổ chức quốc gia, tưởng cũng cần phải theo dõi, quan tâm đến sâu sắc và có một định hướng hợp lý. Tất nhiên, cũng không thể không nói đến trách nhiệm trong việc chăm sóc, quản lý từ phía cha mẹ. mà trước đây trong kho tàng tục ngữ đã nói đến :
                                 “ Cha mẹ ngoảnh đi, thì con dại
                                  Cha mẹ ngoảnh lại, thì con khôn”  (tục ngữ VN).
Mặc khác, để nâng lên tính cách tuyệt vời của Đức Nhân, Đức Hiếu qua giáo lý của Phật, lời dạy đã vượt ra ngoài phạm trù ước định giữa cha mẹ và con cái, giữa bản thân và quyến thuộc, nhằm mở rộng sự toàn mãn chân thiện của một tâm hồn, đó là :
                 “Giới danh vi Hiếu” (Giới là Hiếu).
·        Giới Kinh
Như vậy, Hiếu là cội nguồn của Giới, nếu người không hiếu thảo, thì người ấy không thể giữ giới trọn vẹn và do vậy, không thể tạo tác được các pháp lành (thiện pháp). Sự thâm thúy sâu kín trên đã minh họa cho một hiện trạng xã hội hưng thịnh một nếp sống lành mạnh (Chân-Thiện-Mỹ) hay một hình ảnh suy yếu, nguy hại từ sự lo âu, sợ hải của hổn loạn. Bởi vì, Hiếu mà ta thấy được là do “Hạnh” mà ra, còn Hiếu mà ta không thể thấy được bằng mắt, đó là “Lý của Hiếu”. Vì rằng; nhờ “Lý” (ý thức chơn chánh) mà “Giới” phát sinh, nhờ “Hạnh” (hành động đúng pháp) nên “Giới” mới hiển lộ. Nếu như người chỉ có “Hạnh” mà không nương theo “Lý” thì chỉ biết hiếu thảo với cha mẹ mà không có mở rộng tình thương yêu với mọi người, khi ấy chúng ta có thể sanh tâm bất thiện…
Do đó, ngoài tinh thần báo đáp ân nghĩa sinh thành của con cái, đã được nhắc nhớ qua lời ca dao, như:
                                 “Nghĩa cha sanh cùng công mẹ dưỡng
                                  Thì ngày đêm tư tưởng chớ khuây
                                   Hai công đức ấy nặng thay
                                  Xem bằng bể rộng, xem bằng trời cao”
                                                                                                Ca dao.
Chúng ta còn phải hiểu thêm về lời dạy của Đức Phật, không phải chỉ biết ơn và đền ơn phụng dưỡng thôi là đủ, mà tự thân có thực hiện tu tập những giới pháp của bậc Thánh để được thuần tịnh tâm tư, còn giúp cho cha mẹ biết hướng tâm về Tam Bảo, các thiện pháp, biết bố thí, có chánh kiến… để trở thành bậc thiện trí trong giáo pháp của bậc Thánh và trong đời sống hiện tại.
Giá trị đích thực của Hiếu không phải qua sự lập đi lập lại một định nghĩa nào đó, mà là ngay trong mỗi hành động ứng xử hằng ngày luôn phát tiết một cử chỉ chân thật và tôn kính, trân trọng, không dấu lại bên trong những điều bất mãn, nhọc nhằn hay một ý niệm cố gắng nào đó. nghĩa siêu vượt về Hiếu, nó không phải là một qui định, một nghĩa vụ, một bổn phận bắt buộc, mà là phải từ nguồn mạch yêu thương chân thật từ tinh chất đạo đức giáo dục mà các bậc Thánh đã thực hiện và đề ra.
Tóm lại, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã là một gương sáng của đức Hiếu Hạnh, đã thể hiện qua nhiều đời kiếp và cho đến đời sống cuối cùng nơi cõi đời hiện tại, khi chấm dứt con đường sinh tử, công hạnh thiêng liêng đối với cha mẹ từ muôn đời nay đã viên mãn.
Đồng thời, từ khi Đạo Phật có mặt trong đời và theo suốt dòng thời gian trên 25 thế kỷ đi qua là một nhân chứng của đạo lý tình thương, biết ơn, nhớ ơn và đền ơn. Và cũng kể từ khi giáo lý bậc giác ngộ hội nhập cùng với đạo lý dân tộc Việt Nam đến nay, đã trở thành một nếp sống mang tính đặc thù và hòa quyện suốt chiều dài lịch sử của quê hương Việt và cùng với kho tàng ca dao, dân ca dân gian thấm đậm những sắc màu tươi mát, bình an mầu nhiệm từ bao thế kỷ xa xôi, hiện tại và cho đến vô tận mai sau.
   Long Xuyên, trung tuần tháng 8.2013.